Ấn Độ khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với mặt hàng ống đồng rãnh trong có xuất xứ hoặc nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan

Ngày 29 tháng 09 năm 2026, Tổng vụ Phòng vệ thương mại Ấn Độ (DGTR) đã ra thông báo khởi xướng điều tra chống bán phá giá (CBPG) và chống trợ cấp (CVD) đối với mặt hàng ống đồng xẻ rãnh trong có xuất xứ hoặc nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan. Vụ việc được khởi xướng trên cơ sở hồ sơ đề nghị của ngành sản xuất nội địa Ấn Độ, đại diện là Công ty đồng Metube. Thông tin cụ thể như sau:

1. Thông tin vụ việc điều tra

- Sản phẩm bị điều tra: sản phẩm ống và ống dẫn bằng đồng rãnh trong (Internally Grooved Copper Tubes and Pipes - IGT) có xuất xứ hoặc nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam.thuộc mã HS: 7411 10 00, 7411 21 00, 7411 22 00; 7411 29 00 (mã HS chỉ có tính chất tham khảo, xin xem mô tả chi tiết sản phẩm trong thông báo gửi kèm theo dưới đây).

Nguyên đơn cáo buộc rằng hàng hóa nhập khẩu từ các nước bị điều tra được bán phá giá và được trợ cấp khi bán vào thị trường Ấn Độ, gây cản trở đáng kể đối với quá trình hình thành ngành sản xuất trong nước và đề nghị áp dụng biện pháp CBPG và CTC. 

MetTube cho biết là nhà sản xuất duy nhất của sản phẩm bị điều tra tại Ấn Độ trong POI. DGTR cho rằng sản lượng của MetTube chiếm toàn bộ sản lượng sản phẩm tương tự của Ấn Độ trong POI và xác định doanh nghiệp đáp ứng điều kiện để được coi là ngành sản xuất trong nước (domestic industry) theo quy định hiện hành. 

- Thời kỳ điều tra: (i) đối với điều tra CBPG và CTC: 1/4/2025 đến 31/3/2026; (ii) đối với điều tra thiệt hại: 2022-23, 2023-24, 2024-25 và thời kỳ điều tra CBPG, CTC. 

- Cáo buộc:

+ Đối với CBPG: trên cơ sở so sánh giá trị thông thường và giá xuất khẩu ở cấp độ xuất xưởng, DGTR cho rằng có dấu hiệu ban đầu về biên độ bán phá giá dương và cao hơn mức de minimis đối với sản phẩm nhập khẩu từ cả ba nước bị điều tra.

+ Đối với CTC: Sau khi tham vấn với các Chính phủ liên quan, trong đó có Chính phủ Việt Nam, DGTR quyết định khởi xướng 24 chương trình trợ cấp đối với Việt Nam, gồm các chương trình thuế, tín dụng, xúc tiến thương mại, cung cấp hàng hóa và dịch vụ thấp hơn giá thông thường.

+ Về thiệt hại, DGTR cho rằng lượng nhập khẩu từ các nước bị điều tra đã tăng trong thời kỳ xem xét và tiếp tục chiếm phần chủ yếu trong nhu cầu của thị trường Ấn Độ trong POI. Trong khi đó, ngành sản xuất trong nước mới chỉ giành được thị phần ở mức hạn chế trong năm đầu tiên hoạt động đầy đủ. Giá nhập khẩu sau khi cập cảng được cho là thấp hơn chi phí bán hàng và giá bán thực tế của ngành sản xuất trong nước, đồng thời gây hiện tượng cắt giảm giá (price undercutting).

DGTR cũng ghi nhận ngành sản xuất trong nước chưa thể nâng giá bán lên mức đủ bù đắp chi phí; sản lượng vẫn ở mức thấp so với công suất lắp đặt; tồn kho gia tăng; đồng thời lợi nhuận, lợi nhuận tiền mặt và tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư đều âm trong hai năm hoạt động. Trên cơ sở đó, DGTR cho rằng có đủ bằng chứng sơ bộ về việc hàng nhập khẩu bị cáo buộc bán phá giá và trợ cấp gây cản trở đáng kể đối với quá trình hình thành ngành sản xuất trong nước và có mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bị cáo buộc bán phá giá và thiệt hại nêu trên.

Nguyên đơn đã đề nghị DGTR xem xét áp dụng thuế CBPG và CTC tạm thời, tổ chức phiên điều trần và kiến nghị áp dụng thuế chống bán phá giá trong thời hạn 05 năm. Tuy nhiên, DGTR cho biết các đề nghị này chưa được xem xét tại giai đoạn khởi xướng và sẽ được xem xét ở giai đoạn thích hợp của quá trình điều tra.

2. Thủ tục điều tra

2.1. Nộp thông tin: Khác với các vụ việc trước đây (sử dụng phương thức gửi email), các bên liên quan phải đăng ký trên SETU Portal (http://setu.dgtr.gov.in). Tất cả các thông tin liên lạc và hồ sơ nộp từ các bên liên quan phải được tải lên Cổng thông tin SETU dưới tên đã đăng ký và Mã vụ việc tương ứng: CVD/OI/009/2026. Phải đảm bảo rằng phần văn bản giải trình được nộp ở định dạng PDF/MS-Word có thể tìm kiếm được và các tệp dữ liệu ở định dạng MS-Excel.  

2.2. Theo dõi diễn biến vụ việc: Các bên liên quan cũng được khuyên nên thường xuyên theo dõi trang web chính thức của DGTR tại www.dgtr.gov.in và Cổng thông tin SETU (http://setu.dgtr.gov.in) để cập nhật thông tin mới nhất về cuộc điều tra này.

2.3. Thời hạn: Bất kỳ thông tin nào liên quan đến cuộc điều tra này phải được các bên liên quan tải lên Cổng thông tin SETU, bao gồm phiên bản bảo mật (CV) và phiên bản không bảo mật (NCV), phải được tải lên các cột tương ứng được chỉ định trong vòng 37 ngày kể từ ngày gửi thư thông báo. Nếu không nhận được thông tin trong thời hạn quy định hoặc thông tin nhận được không đầy đủ, Cơ quan có thể đưa ra kết luận dựa trên các thông tin thực tế có sẵn bất lợi.

- Đăng ký bên liên quan: Tất cả các bên cần đăng ký làm bên liên quan trong vụ việc này và nộp Bản trả lời bản câu hỏi điều tra trong thời hạn nêu trên theo quy định tại thông báo này duy nhất qua Cổng thông tin SETU.

- Nộp ý kiến về phạm vi sản phẩm bị điều tra (PUC) và Phương pháp PCN trong vòng 15 ngày và được tính đồng thời với thời hạn 37 ngày nêu trên.

- Nộp đơn xin gia hạn gửi Bản trả lời/bình luận: Bất kỳ yêu cầu gia hạn nào phải được các bên liên quan nộp qua Cổng thông tin SETU ít nhất một ngày trước thời hạn gốc. Các yêu cầu nộp sau thời gian này sẽ không được xem xét.

2.4. Nguyên tắc bảo mật thông tin: Trường hợp bất kỳ bên nào trong cuộc điều tra này nộp thông tin bảo mật tới DGTR phải đồng thời nộp phiên bản không bảo mật của thông tin. Việc không tuân thủ quy định trên có thể dẫn đến việc từ chối hồ sơ nộp.

Các hồ sơ nộp như vậy phải được đánh dấu rõ ràng là “bảo mật” (confidential) hoặc  “không bảo mật” (non-confidential) ở đầu mỗi trang. Bất kỳ hồ sơ nào nộp cho Cơ quan mà không có các đánh dấu này sẽ được Cơ quan xử lý như thông tin “không bảo mật”, và Cơ quan được quyền cho phép các bên liên quan khác xem xét các hồ sơ đó.

Phiên bản bảo mật phải chứa tất cả các thông tin có bản chất bảo mật và/hoặc thông tin khác mà bên cung cấp thông tin yêu cầu bảo mật. Đối với thông tin được yêu cầu bảo mật do bản chất của nó, hoặc thông tin yêu cầu bảo mật vì các lý do khác, bên cung cấp thông tin phải đưa ra văn bản giải trình lý do chính đáng kèm theo thông tin được cung cấp về lý do tại sao thông tin đó không thể công khai.

Phiên bản không bảo mật của thông tin do các bên liên quan nộp phải là bản sao chính xác của phiên bản bảo mật với thông tin bảo mật được mã hóa/đánh chỉ số hoặc bỏ trống (nơi không thể mã hóa/đánh chỉ số), và thông tin đó phải được tóm tắt một cách thích hợp và đầy đủ tùy thuộc vào thông tin được yêu cầu bảo mật.

Bản tóm tắt không bảo mật phải đủ chi tiết để cho phép hiểu một cách hợp lý về bản chất của thông tin được cung cấp trên cơ sở bảo mật. Tuy nhiên, trong những trường hợp ngoại lệ, bên nộp thông tin bảo mật có thể chỉ ra rằng thông tin đó không thể tóm tắt, và phải cung cấp văn bản giải trình nêu rõ lý do đầy đủ và thích hợp về lý do tại sao không thể tóm tắt, để DGTR xem xét chấp thuận.

Sau khi hài lòng và chấp nhận yêu cầu bảo mật đối với thông tin được cung cấp, DGTR sẽ không tiết lộ thông tin đó cho bất kỳ bên nào nếu không có sự ủy quyền cụ thể của bên cung cấp thông tin đó. 

2.5. Tiếp cận hồ sơ công khai: Tất cả các phiên bản không bảo mật của hồ sơ do bất kỳ bên liên quan nào nộp sẽ được các bên liên quan khác truy cập thông qua tài khoản đăng nhập tương ứng trên Cổng thông tin SETU.

2.6. Không hợp tác: Trong trường hợp có bất kỳ bên liên quan nào từ chối truy cập hoặc không cung cấp thông tin cần thiết trong thời hạn hợp lý hoặc trong thời hạn do DGTR quy định trong thông báo khởi xướng này, hoặc cản trở đáng kể cuộc điều tra, Cơ quan có thể tuyên bố bên liên quan đó là không hợp tác và sử dụng các dữ liệu thực tế có sẵn (thường là bất lợi) để tính toán biên độ CBPG, CTC. Điều này thường dẫn tới mức thuế cao cho doanh nghiệp.

3. Khuyến nghị

Để kịp thời ứng phó vụ việc, Cục Phòng vệ thương mại (PVTM) khuyến nghị các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu sản phẩm bị đề nghị điều tra sang Ấn Độ như sau:

1)    Nghiên cứu kĩ thông báo khởi xướng, đơn kiện bản công khai, gửi ý kiến bình luận về vụ việc (nếu có).

2)    Bố trí nguồn lực để xử lý vụ việc (cân nhắc thuê luật sư tư vấn hỗ trợ nếu cần thiết);

3)    Nghiên cứu, rà soát sản phẩm và gửi bình luận đối với mã PCN sử dụng trong quá trình điều tra, bình luận về các đề xuất PCN của nguyên đơn (nếu có).

4)    Hợp tác đầy đủ và toàn diện với cơ quan điều tra trong suốt quá trình vụ việc bao gồm: gửi Bản trả lời bản câu hỏi điều tra dành cho nhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài đúng hạn và thể thức yêu cầu; tham gia quá trình thẩm tra tại chỗ; phiên điều trần; gửi các bình luận phản biện về vụ việc… Điều này giúp doanh nghiệp tránh bị kết luận không hợp tác (thường dẫn tới mức thuế rất cao) và có thể giúp doanh nghiệp đạt được kết quả tích cực.

5)    Liên hệ và phối hợp chặt chẽ với Cục trong toàn bộ quá trình xử lý vụ việc để nhận được sự hỗ trợ kịp thời.

Tải thông báo khởi xướng tại đây.

Thông tin chi tiết xin liên hệ: Phòng Xử lý PVTM nước ngoài, Cục PVTM, Bộ Công Thương, 54 Hai Bà Trưng, Phường Cửa Nam Hà Nội. Công chức phụ trách: Nguyễn Thúy. Email: thuyngth@moit.gov.vn; nganha@moit.gov.vn. Điện thoại: 0968456865.

Tin tức khác