CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI EU ĐANG ĐIỀU TRA ÁP DỤNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG SẢN PHẨM BẰNG GANG XUẤT KHẨU TỪ CÁC NƯỚC
1. Thông tin chung về vụ việc điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng Sản phẩm bằng gang xuất khẩu từ các nước
- Mô tả mặt hàng:
Công nghiệp gang Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Vai trò của các doanh nghiệp tư nhân dần mở rộng, những dự án đầu tư vốn nước ngoài với quy mô lớn hơn đã và đang tập trung vào ngành công nghiệp này. Các doanh nghiệp nhà nước đang mất dần đặc quyền đặc lợi và rơi vào tình thế phải tìm ra cách thức tồn tại độc lập với Nhà nước. Giai đoạn phát triển mới này đòi hỏi những tiếp cận mới như tăng cường cạnh tranh, sắp xếp lại cơ chế thu mua kim loại phế liệu song song với bảo vệ môi trường, quản lý quá trình tự do hóa thương mại, đánh giá các dự án vốn đầu tư nước ngoài và tăng cường vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp.
Ngành công nghiệp gang Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới và sự đổi mới trong chính sách để phù hợp cho giai đoạn mới này là rất cần thiết. Nghiên cứu cũng đề xuất những định hướng trong đổi mới chính sách. Sau phần giới thiệu chung, các vấn đề của ngành công nghiệp sẽ được đưa ra bàn luận cùng với những đóng góp và hạn chế của những nghiên cứu trước đây. Sau đó, phần thứ nhất sẽ khái quát cơ cấu kinh doanh và sản xuất của công nghiệp gang Việt Nam. Phần thứ hai miêu tả những đặc trưng của các dự án đầu tư quy mô lớn trong ngành gang với nguồn đầu tư nước ngoài. Phần thứ ba phân tích những vấn đề chính sách liên quan đến ngành công nghiệp này. Phần cuối kết luận chung cho toàn bộ nghiên cứu.
Việc phát triển gang công nghiệp ở các nước đang phát triển là một công việc không dễ dàng. Thúc đẩy ngành công nghiệp gang nội địa buộc một quốc gia phải đối mặt với các vấn đề như thị trường nội địa hạn hẹp, khó khăn về tài chính, cơ sở hạ tầng yếu kém và sự thiếu hụt đội ngũ quản lí, kỹ sư và chuyên gia kỹ thuật với những kỹ năng chuyên môn cần thiết.
Hơn nữa, các nước đang phát triển ngày nay buộc phải công nghiệp hóa trong điều kiện hội nhập với kinh tế thế giới ngay từ giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế (theo Ohno (2000); Kimura (2003)). Ví dụ như, bằng việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và kí kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) hay các hiệp định đối tác kinh tế song phương (EPA), càng nhiều quốc gia phải thực hiện tự do hóa thương mại đối với hành hóa dịch vụ cũng như đầu tư ngay ở giai đoạn đầu của tiến trình phát triển. Đây chính là những khó khăn cản trở những nước đang phát triển này áp dụng chính sách truyền thống bảo hộ những ngành công nghiệp non trẻ, chính sách giúp các ngành công nghiệp trong nước còn non trẻ có thêm thời gian để phát triển và lớn mạnh hơn. Các ngành công nghiệp Việt Nam phần lớn đều đang phải đối mặt với khó khăn này (theo Ishikawa, 2006, chương 6). Tương lai của ngành công nghiệp gang nói riêng cũng không có nhiều sáng sủa dưới áp lực của tự do hóa và hội nhập quốc tế.
Thực tế, từ sau chính sách Đổi mới trong vòng 20 năm trở lại đây, Việt Nam đã và đang mở rộng quan hệ với thế giới. Việt Nam đã thực hiện cắt giảm thuế mậu dịch khu vực theo khung AFTA (khối mậu dịch tự do ASEAN) từ năm 2006 và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007. Với nghiên cứu về tương lai của ngành công nghiệp gang Việt Nam, sự tự do hóa kinh tế ở Việt Nam được xem như một cơ sở nghiên cứu cần thiết.
Thêm vào đó, Việt Nam đang hướng tới đổi mới nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy sự đổi mới trong các doanh nghiệp nhà nước cùng với những thay đổi về chính sách công nghiệp cho các doanh nghiệp này cũng sẽ là kim chỉ nam hành động cho ngành công nghiệp gang cũng như cho toàn bộ nền kinh tế. Sự đổi mới này sẽ theo hướng như thế nào trong trường hợp của ngành công nghiệp gang cũng là một nội dung được đề cập trong nghiên cứu này.
- Mã HS:
Hàng hóa bị điều tra là hàng hóa bằng gang graphite dạng phiến (sắt xám) hoặc gang graphite hình cầu (còn được gọi là gang dẻo), và các bộ phận của chúng. Các sản phẩm này được sử dụng để:
- che phủ mặt đất hoặc bề mặt phụ, và / hoặc các cửa cho mặt đất hoặc bề mặt phụ, và
- cung cấp quyền truy cập vào mặt đất hoặc bề mặt phụ và / hoặc cung cấp tầm nhìn cho mặt đất hoặc bề mặt phụ.
Các sản phẩm có thể được gia công, tráng, sơn và / hoặc gắn với các vật liệu khác bao gồm nhưng không giới hạn bởi bê tông, tấm lát, hoặc gạch, nhưng loại trừ vòi chữa cháy có nguồn gốc từ Trung Quốc và ở Ấn Độ, trong mã CN ex 7301100031, ex 7325 10 00 và ex 7325 99 10 (sản phẩm có liên quan).
- Quy trình sản xuất:
Nguyên liệu chính được sử dụng trong sản xuất gang là sắt thép phế liệu, quặng sắt, gang thỏi và than cốc. Trong quá trình xử lý graphit hình cầu, magiê được thêm vào để thay đổi carbon trong sắt từ dạng vảy sang graphit hình cầu. Kim loại được nấu chảy trong lò cao, cốc nổ lạnh hoặc nóng hoặc bằng lò điện.
Quá trình thường thấy trong sản xuất đúc bằng cupola như sau. Nguyên liệu thô được cân và thải vào thùng sạc cupola. Các nội dung được chuyển lên đỉnh của cupola và được làm nóng dần khi chúng rơi xuống vùng tan chảy, nơi điện tích thép nóng chảy tạo thành sắt và xỉ. Sắt được gõ từ cupola và được thu thập trong một cái muôi khử lưu huỳnh. Xỉ được tách ra khỏi bàn ủi. Bộ chế hòa khí được thêm vào để tăng hàm lượng carbon của sắt.
Đúc được thực hiện bằng cách sử dụng cát, được củng cố xung quanh một mẫu kim loại vĩnh cửu trong bình đúc ở áp suất cao để nó tự chống đỡ một khi khuôn được lấy ra. Khoang kết quả được lấp đầy bằng sắt để cung cấp một bản sao. Sau khi hóa rắn và làm nguội, vật đúc được lấy từ cát, được tái chế. Các vật đúc được xử lý bằng vụ nổ và sau đó có thể được sơn.
- Thông tin điều tra của EU đối với mặt hàng Sản phẩm bằng gang
Vào ngày 10 tháng 12 năm 2016, Ủy ban Châu Âu ('Ủy ban') đã khởi xướng một cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan đến việc nhập khẩu vào Liên minh một số mặt hàng gang đúc than chì (sắt xám) hoặc gang graphit hình cầu (còn gọi là gang dẻo sắt) và các bộ phận của chúng ('vật phẩm bằng gang') có nguồn gốc từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PR PRC ') và ở Ấn Độ (' các quốc gia liên quan ') trên cơ sở Điều 5 của Quy định (EU) 2016/1036 ('Quy định cơ bản').
Ủy ban đã công bố một Thông báo khởi đầu trên Tạp chí chính thức của Liên minh châu Âu (2) (Thông báo khởi tạo).
Ủy ban đã khởi xướng cuộc điều tra sau một đơn khiếu nại vào ngày 31 tháng 10 năm 2016 bởi bảy nhà sản xuất của Liên minh, là Fondatel Lecompte SA, Ulefos Niemisen Valimo Oy Ltd, Saint-Gobain PAM SA, Fonderies Dechaumont SA, Heinrich Meier Eisengießerei GmbH & Co. Các sản phẩm xây dựng của Gobain UK Ltd và Fundiciones de Odena SA ('những người khiếu nại'). Những người khiếu nại chiếm hơn 40% tổng sản lượng gang của Liên minh. Đơn khiếu nại có bằng chứng về việc bán phá giá và dẫn đến thương tích vật chất đủ để biện minh cho việc bắt đầu điều tra.
Ngày 14 tháng 02 năm 2019, Ủy ban Châu Âu ( EC) đã ra Quyết định EU 2019/216 Áp thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp cuối cùng đối với mặt hàng đúc bằng gang có xuất xứ từ Trung Quốc.
Cuộc điều tra về việc bán phá giá và thương tích trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 10 năm 2015 đến ngày 30 tháng 9 năm 2016 (giai đoạn điều tra trên mạng). Việc kiểm tra các xu hướng liên quan đến đánh giá thương tích trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 1 năm 2013 đến khi kết thúc giai đoạn điều tra (giai đoạn được coi là lợi).
Một số bên quan tâm lập luận rằng khoảng thời gian được xem xét là ngắn bất thường và có tính chọn lọc cao và do đó quá ngắn để cho phép phân tích thích hợp.
Ủy ban lưu ý rằng khoảng thời gian được xem xét không phải là ngắn bất thường. Đối với điều tra hiện tại, giai đoạn được xem xét bao gồm thời gian điều tra cộng với 3 năm trước đó, dẫn đến tổng cộng 3 năm và ba phần tư. Điều này đã được tìm thấy là hợp lý để kiểm tra các xu hướng liên quan để đánh giá chấn thương. Nó bao gồm hơn 3 năm phù hợp với thực tiễn của Ủy ban và do đó nó không phải là ngắn bất thường.
Cuộc điều tra, Ủy ban Châu Âu cho biết họ đã tạm thời chọn một số mẫu các nhà sản xuất để tiến hành lấy ẫu sản phẩm từ ba trong bảy nhà sản xuất trong Liên minh Châu ÂU chiếm 48% tổng sản lượng sản xuất và 43% tổng doanh thu của toàn ngành Liên minh hợp tác điều tra ba mẫu từ ba nhà nhập khẩu không liên quan và mẫu từ ba nhóm sản xuất xuất khẩu của Trung Quốc chiếm 62% kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc.
2. Phân tích tình hình xuất khẩu mặt hàng Sản phẩm bằng gang của Trung Quốc sang EU giai đoạn 2021 - 2024
Biểu đồ 1: Giá trị xuất khẩu gang từ Trung Quốc sang EU giai đoạn 2021- 2024
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: IHS Markit
Trong giai đoạn 2021-2024, giá trị xuất khẩu gang từ Trung Quốc sang EU có nhiều biến động. Từ năm 2021 đến 2022, giá trị xuất khẩu giảm từ 653,02 triệu USD xuống 476,03 triệu USD, ghi nhận mức giảm gần 35%. Điều này phản ánh của ngành sản xuất gang tại Trung Quốc đang giảm do đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, từ năm 2022 đến 2023, xuất khẩu bắt đầu tăng trở lại lên 498,39 triệu USD, tăng khoảng 18%. Sau đó, từ năm 2023 đến 2024, xuất khẩu phục hồi mạnh, tăng lên 575,09 triệu USD, đạt mức tăng 24% so với năm trước.
Mức giảm mạnh nhất xảy ra vào năm 2022, với tỷ lệ giảm lên tới 35%, và có sự tăng nhẹ trong năm 2023, khoảng 12% so với năm trước. Các nguyên nhân chính được cho là việc EU áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với gang nhập khẩu từ Trung Quốc và tình hình suy thoái kinh tế tại EU, làm giảm nhu cầu nhập khẩu.
Biểu đồ 2: Giá trị xuất khẩu gang từ Trung Quốc sang EU năm 2024
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: IHS Markit
Giá trị xuất khẩu gang từ Trung Quốc sang EU trong năm 2024 (tính từ tháng 1 đến tháng 9) cho thấy sự phục hồi. Bắt đầu từ tháng 1 với giá trị xuất khẩu là 20,12 triệu USD, con số này giảm nhẹ xuống 19,45 triệu USD vào tháng 2. Tuy nhiên, vào tháng 3, giá trị xuất khẩu đã tăng trở lại lên 22,05 triệu USD. Đặc biệt, vào tháng 4 và tháng 5, xuất khẩu tăng mạnh lên lần lượt 25,67 triệu USD và 25,89 triệu USD, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ trong nửa đầu năm. Trong các tháng tiếp theo, mặc dù giá trị xuất khẩu có sự biến động, nhưng vẫn duy trì ở mức khá cao. Tháng 6 là 22,56 triệu USD, tháng 7 đạt đỉnh với 27,35 triệu USD, rồi giảm xuống còn 25,45 triệu USD vào tháng 8 và 23,65 triệu USD vào tháng 9, cuối cùng là tháng 10 đạt 21,45 triệu USD.
Xu hướng này cho thấy, mặc dù có sự biến động theo từng tháng, nhưng nhìn chung, giá trị xuất khẩu gang từ Trung Quốc sang EU trong năm 2024 có sự phục hồi so với những năm trước.
Biểu đồ 3: Giá trị xuất khẩu gang từ Ấn Độ sang EU giai đoạn 2021- 2024
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: IHS Markit
Trong giai đoạn 2021-2024, giá trị xuất khẩu gang từ Ấn Độ sang EU ghi nhận sự biến động đáng kể. Từ năm 2021 đến năm 2022, giá trị xuất khẩu tăng mạnh từ 74,06 triệu USD lên 134,74 triệu USD, tương ứng mức tăng khoảng 68,5%. Đây là dấu hiệu cho thấy nhu cầu cao của EU đối với sản phẩm cáp quang, đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia EU đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng công nghệ và viễn thông sau đại dịch COVID-19. Đồng thời, sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu đã thúc đẩy EU tìm kiếm nguồn cung từ các đối tác như Ấn Độ. Tuy nhiên, từ năm 2022 đến năm 2023, giá trị xuất khẩu giảm nhẹ xuống còn 103,98 triệu USD, giảm khoảng 15,8%. Năm 2024, nên kinh tế bắt đầu phục hồi trở lại sau đại dịch COVID-19, giá trị xuất khẩu gang từ Ấn Độ sang EU bắt đầu tăng trở lại lên tới 115,84 triệu USD.
Biểu đồ 4: Giá trị xuất khẩu gang từ Ấn Độ sang EU năm 2024
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: IHS Markit
Giá trị xuất khẩu gang từ Ấn Độ sang EU trong năm 2024 (tính từ tháng 1 đến tháng 9) cho thấy xu hướng tăng giảm rõ rệt. Ban đầu, vào tháng 1, giá trị xuất khẩu là 2,11 triệu USD. Tuy nhiên, xuất khẩu đã có sự gia tăng đáng chú ý vào tháng 2, đạt 3,29 triệu USD, và tiếp tục duy trì mức ổn định với 3,05 triệu USD vào tháng 3. Sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn xuất hiện vào tháng 4 và tháng 5, khi giá trị xuất khẩu lần lượt là 5,49 triệu USD và 8,05 triệu USD, cho thấy nhu cầu tăng cao từ thị trường EU trong nửa đầu năm 2024.
Sau tháng 5, giá trị xuất khẩu có sự giảm nhẹ vào tháng 6 xuống còn 7,65 triệu USD, và tiếp tục giảm trong tháng 7 xuống còn 6,48 triệu USD. Mặc dù có sự hồi phục nhẹ trong tháng 8 (6,2 triệu USD), giá trị xuất khẩu lại giảm đáng kể trong tháng 9 và tháng 10 xuống lần lượt là 5,76 triệu USD và 4,78 triệu USD.
3. Kết luận
Từ những số liệu thu thập được và các phân tích ở trên cho thấy:
Sản lượng kim ngạch suất khẩu gang tiền chế sang thị trường EU còn chiếm tỷ trọng tương đối thấp (dưới 7%) trong cơ cấu nhập khẩu gang vào EU đồng thời chưa có sự biến động lớn về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu vào EU thời gian vừa qua.
PHỤ LỤC
TÌNH HÌNH VÀ XU HƯỚNG ĐIỀU TRA ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀO EU
- Tình hình điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào EU
Tính đến hết năm 2023, EU đã có 182 biện pháp phòng vệ thương mại chính thức có hiệu lực (tăng thêm 05 biện pháp so với năm 2022); bao gồm: 120 biện pháp chống bán phá giá chính thức (được gia hạn đối với 36 vụ việc sau các cuộc điều tra chống lẩn tránh), 21 biện pháp chống trợ cấp (được gia hạn đối với 4 vụ việc sau các cuộc điều tra chống lẩn tránh) và 01 biện pháp tự vệ. Theo thống kê, các biện pháp này đã góp phần bảo vệ khoảng 493.000 việc làm trực tiếp tại EU.
Mức độ thực thi điều tra trong năm 2023 tương đương với những năm trước với 99 vụ việc điều tra được thực hiện, bao gồm 21 vụ việc điều tra ban đầu và 70 vụ việc rà soát. Tính đến cuối năm 2023, có 39 vụ việc điều tra đang được tiến hành.
a) Đối với hoạt động điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp
Năm 2023, Ủy ban châu Âu đã khởi xướng 12 cuộc điều tra (10 vụ chống bán phá giá và 02 vụ chống trợ cấp), đánh dấu sự trở lại của giai đoạn trước năm 2022. Năm 2022, Ủy ban đã khởi xướng số lượng cực kỳ thấp là 05 vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp mới.
Mặc dù các cuộc điều tra thường dựa trên khiếu nại từ ngành công nghiệp, nhưng trong năm 2023, Ủy ban đã chủ động khởi xướng một cuộc điều tra liên quan đến việc nhập khẩu xe điện chạy bằng pin (BEV) từ Trung Quốc. Ủy ban đã thu thập bằng chứng cho thấy sự tồn tại của nhiều khoản trợ cấp của Trung Quốc, cũng như mối đe dọa gây tổn hại cho ngành BEV của EU do tình trạng dư thừa công suất của Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ. Ngoài ra còn có bằng chứng về việc nhập khẩu BEV giá rẻ và được trợ cấp vào EU đang tăng nhanh.
Số lượng các vụ việc rà soát được khởi xướng đã giảm từ 41 vào năm 2022 xuống còn 31 vào năm 2023. Trong đó bao gồm 10 vụ việc rà soát hết hiệu lực đối với các biện pháp hiện hành và các vụ việc rà soát tạm thời để sửa đổi hoặc điều chỉnh mức độ của các biện pháp hiện hành. Sự sụt giảm, đặc biệt là trong các đợt rà soát hết hiệu lực, có liên quan đến thực tế là có ít biện pháp hết hiệu lực vào năm 2023 hơn so với những năm trước.
Tổng cộng, 43 vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp mới và rà soát lại đã được khởi xướng, về cơ bản phù hợp với mức độ hoạt động hàng năm trong 5 năm qua.
Ủy ban đã áp dụng thuế tạm thời trong 05 cuộc điều tra chống bán phá giá và kết thúc 06 cuộc điều tra chống bán phá giá bằng cách áp dụng thuế cuối cùng.
Ủy ban đã chấm dứt 01 vụ việc điều tra chống trợ cấp mà không áp dụng biện pháp vì khiếu nại đã được rút lại. Tuy nhiên, cuộc điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm đó vẫn được tiếp tục.
Vào năm 2023, 23 đợt rà soát hết hiệu lực đã được kết thúc với mức thuế cuối cùng. Hai biện pháp chống bán phá giá đã tự động hết hiệu lực sau thời hạn áp dụng 5 năm.
b) Đối với hoạt động điều tra tự vệ
Hai biện pháp tự vệ đã được rà soát trong năm 2023.
Ủy ban đã tiến hành rà soát biện pháp tự vệ mà EU áp dụng đối với việc nhập khẩu một số sản phẩm thép vào năm 2019 nhằm đánh giá xem liệu có nên chấm dứt sớm biện pháp này hay không. Đánh giá cho thấy áp lực nhập khẩu vẫn ở mức cao: Thị trường EU vẫn hấp dẫn đối với các nước xuất khẩu cả về khối lượng và giá cả, và vẫn có mức độ thâm nhập nhập khẩu cao vào thị trường EU. Lượng nhập khẩu đã tăng từ năm 2021 đến năm 2022, mặc dù mức tiêu thụ giảm. Tình trạng dư thừa công suất toàn cầu trong lĩnh vực này tiếp tục gia tăng và các nước xuất khẩu vẫn chưa tìm được đầu ra khác để bù đắp cho khối lượng thương mại bị mất tại thị trường Hoa Kỳ và EU kể từ năm 2018 và do đó rủi ro chuyển hướng thương mại vẫn còn liên quan/hiện hữu. Do đó, Ủy ban kết luận rằng việc chấm dứt sớm biện pháp bảo vệ vào ngày 30 tháng 6 năm 2023 sẽ gây nguy hiểm cho ngành thép EU và tình hình kinh tế của ngành này. Trên cơ sở dữ liệu nhập khẩu từ năm trước, Ủy ban cũng đã cập nhật danh sách các nước đang phát triển phải chịu và bị loại khỏi biện pháp này. Các sửa đổi khác đã được thực hiện đối với biện pháp bảo hộ thép nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy thương mại của một số sản phẩm nhất định giữa Vương quốc Anh và Bắc Ireland.
Vào tháng 1 năm 2023, Ủy ban đã mở một đợt rà soát để thực hiện phán quyết của Tòa án chung về biện pháp bảo hộ song phương được áp dụng vào năm 2019 đối với gạo Indica nhập khẩu từ Campuchia và Myanmar theo Chương trình ưu đãi chung. Đợt xem xét đã kết thúc vào tháng 3 năm 2024 với việc áp dụng lại biện pháp tự vệ.
c) Đối với hoạt động điều tra chống lẩn tránh
Đảm bảo hiệu quả của các biện pháp phòng vệ thương mại vẫn là ưu tiên hàng đầu của Ủy ban. Do đó, Ủy ban giám sát tác động của thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đối với luồng nhập khẩu và thực hiện hành động kịp thời khi các biện pháp bị lẩn tránh hoặc trốn thuế. Hoạt động giám sát này củng cố chính sách phòng vệ thương mại của EU bằng cách đảm bảo rằng các biện pháp hiện hành được tôn trọng và cuối cùng đạt được mục đích dự kiến. Mục đích cuối cùng của hoạt động giám sát là chống lại các hoạt động lẩn tránh thuế, trốn thuế bao gồm cả gian lận.
Trong những năm gần đây, Ủy ban đã phải đối mặt với các hoạt động lẩn tránh ngày càng phức tạp. Các chương trình cơ bản hơn như 'lắp ráp tua vít' các bộ phận hoặc chỉ chuyển hàng qua các nước thứ ba ít được sử dụng hơn. Chúng nhường chỗ cho các quy trình lắp ráp đòi hỏi một số hoạt động công nghiệp có thể thay đổi bản chất của sản phẩm trong khi chỉ tăng rất ít giá trị cho hàng hóa cuối cùng. Sau đó, chúng được nhập khẩu vào EU để trốn thuế đã áp dụng trước đó. Việc giám sát liên quan đến việc liên tục phân tích luồng thương mại, tính đến tất cả các yếu tố cần thiết để diễn giải diễn biến thị trường sau khi áp dụng các biện pháp.
Một khía cạnh được giám sát chặt chẽ khi mức thuế suất thấp hơn hoặc bằng 0 đối với các nhà xuất khẩu cụ thể, được áp dụng trên cơ sở các trường hợp cá biệt, mở ra khả năng cho các nhà điều hành gian lận trốn thuế thông qua việc chuyển hướng bằng cách bán sản phẩm cho một nhà sản xuất xuất khẩu không phải chịu các biện pháp chống bán phá giá hoặc phải chịu mức thuế thấp hơn, sau đó nhà sản xuất này sẽ xuất khẩu sản phẩm. Những rủi ro này sẽ được ngăn chặn bằng các điều khoản giám sát đặc biệt.
Trong năm 2023, các điều khoản như vậy đã được đưa vào tất cả các quy định áp dụng các biện pháp dứt khoát với các mức thuế suất riêng lẻ khác nhau, nâng tổng số biện pháp có điều khoản giám sát đặc biệt lên 62. Nếu Ủy ban có đủ bằng chứng, từ các hoạt động giám sát của chính mình hoặc từ ngành công nghiệp, rằng các biện pháp đang bị lẩn tránh, Ủy ban sẽ mở một cuộc điều tra chống lẩn tránh để bảo vệ ngành sản xuất trong nước.
2. Xu hướng điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào EU
Các thống kê hiện tại cho thấy EU ngày càng nghiêm ngặt trong việc bảo vệ ngành sản xuất nội địa của mình thông qua các biện pháp phòng vệ thương mại.
Nhìn chung, EU ngày càng gia tăng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là các sản phẩm công nghiệp có giá trị cao và tiềm năng cạnh tranh mạnh. Điều này xuất phát từ nhu cầu bảo vệ thị trường nội địa khỏi sự cạnh tranh không lành mạnh và tránh thiệt hại cho các ngành sản xuất trong nước. Các biện pháp phòng vệ thương mại của EU thường xuyên nhắm đến các sản phẩm có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, giá thấp, và có nguy cơ gây ảnh hưởng đến ngành sản xuất của khu vực.
Một số đặc điểm chính của xu hướng này bao gồm:
- Gia tăng điều tra bán phá giá và chống trợ cấp:
Với sự cạnh tranh từ các nền kinh tế đang phát triển, EU có xu hướng tăng cường các cuộc điều tra bán phá giá và trợ cấp đối với các mặt hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Điều này là do lo ngại về giá trị công bằng của hàng hóa cũng như các biện pháp hỗ trợ từ phía nhà nước có thể gây ảnh hưởng đến sự cạnh tranh trong nội bộ của thị trường EU.
- Áp dụng các biện pháp phòng vệ dự phòng:
Trong một số trường hợp, EU không chờ đến khi có thiệt hại nghiêm trọng xảy ra mà đã thực hiện các biện pháp dự phòng nhằm ngăn chặn những rủi ro tiềm tàng cho ngành sản xuất trong nước. Ví dụ, đối với mặt hàng thép, EU đã áp dụng các biện pháp kiểm soát nhập khẩu dựa trên hạn ngạch và mức thuế bổ sung để ngăn chặn thép giá rẻ tràn vào châu Âu.
- Chú trọng vào tiêu chuẩn môi trường và lao động:
Bên cạnh các biện pháp phòng vệ thương mại truyền thống, EU đang ngày càng quan tâm đến việc bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn lao động trong các hoạt động thương mại quốc tế. Các sản phẩm của Việt Nam nếu không tuân thủ các tiêu chuẩn này có nguy cơ bị cấm nhập khẩu hoặc áp dụng các biện pháp kiểm soát bổ sung.






