THEO DÕI PHÒNG NGỪA LẨN TRÁNH BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI VÀ GIAN LẬN XUẤT XỨ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG SẢN PHẨM BẰNG GANG  XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU

1. Phân tích tình hình xuất khẩu mặt hàng gang từ Việt Nam vào thị trường EU giai đoạn 2021 – 2024

Biểu đồ 1: Giá trị xuất khẩu mặt hàng gang từ Việt Nam vào thị trường EU Quý I giai đoạn 2021 – 2024

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: IHS Markit

Trong giai đoạn Quý I từ năm 2021 đến 2024, giá trị xuất khẩu gang của Việt Nam vào thị trường EU có những biến động rõ rệt. Cụ thể, giá trị xuất khẩu gang của Việt Nam vào thị trường EU Quý I năm 2021 đạt 4,61 triệu USD, sau đó giảm dần trong hai năm liên tiếp, xuống còn 2,45 triệu USD vào Quý I năm 2022 và tiếp tục giảm mạnh xuống 1,86 triệu USD vào Quý I năm 2023. Đến Quý I năm 2024, giá trị xuất khẩu tăng vọt lên 5,49 triệu USD, mức cao nhất trong giai đoạn này. 

Biểu đồ 2: Giá trị xuất khẩu mặt hàng gang từ Việt Nam vào thị trường EU Quý II giai đoạn 2021 – 2024

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: IHS Markit

Giá trị xuất khẩu gang từ Việt Nam vào thị trường EU trong Quý II giai đoạn 2021–2024 có sự biến động ý. Cụ thể, giá trị xuất khẩu gang của Việt Nam vào thị trường EU Quý II năm 2021 đạt 2,61 triệu USD. Năm 2022, giá trị xuất khẩu gang của Việt Nam vào thị trường EU Quý II giảm xuống còn 1,45 triệu USD. Tuy nhiên, xu hướng bắt đầu đảo chiều mạnh mẽ từ năm 2023, xuất khẩu gang của Việt Nam vào thị trường EU Quý II tăng lên 4,98 triệu USD, gấp hơn hai lần so với năm trước, cho thấy dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng tích cực. Đến Quý II/2024, giá trị xuất khẩu tiếp tục đạt mức cao nhất trong giai đoạn, với 5,89 triệu USD.

Biểu đồ 3: Giá trị xuất khẩu mặt hàng gang từ Việt Nam vào thị trường EU Quý III giai đoạn 2021 – 2024

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: IHS Markit

Trong giai đoạn Quý III từ năm 2021 đến 2024, giá trị xuất khẩu gang của Việt Nam vào EU có xu hướng biến động không đồng đều. Năm 2021, giá trị xuất khẩu ở mức 1,59 triệu USD. Đến năm 2022, xuất khẩu trong Quý III tăng lên mức 1,78 triệu USD. Tuy nhiên, đến trong Quý III năm 2023, giá trị xuất khẩu gang của Việt Nam vào EU lại giảm xuống còn 1,54 triệu USD. Quý III năm 2024, giá trị xuất khẩu tăng vọt lên 4,89 triệu USD, cao gấp hơn ba lần so với cùng kì năm trước.

Biểu đồ 4: Giá trị xuất khẩu mặt hàng gang từ Việt Nam vào thị trường EU Quý IV giai đoạn 2021 – 2024

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: IHS Markit

Trong giai đoạn Quý IV từ năm 2021 đến 2023, giá trị xuất khẩu gang của Việt Nam vào thị trường EU ghi nhận xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ và liên tục. Cụ thể, Quý IV năm 2021, giá trị xuất khẩu đạt mức 1,68 triệu USD. Sang Quý IV năm 2022, con số này tăng hơn gấp đôi, đạt 3,98 triệu USD. Đến Quý IV/2023, giá trị tiếp tục tăng lên mức 5,79 triệu USD, cao gấp hơn ba lần so với năm 2021, thể hiện đà tăng trưởng bền vững. Đến Quý IV/2024 vẫn có sự tăng nhẹ với 6,08 triệu USD.

Xu hướng này phản ánh sự cải thiện đáng kể trong năng lực sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Các yếu tố có thể đóng vai trò quan trọng bao gồm việc tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, nâng cao chất lượng sản phẩm, và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ EU. Đồng thời, sự gia tăng nhu cầu lắp đặt hạ tầng viễn thông và chuyển đổi số tại EU cũng tạo động lực lớn cho xuất khẩugangtừ Việt Nam. 

2. Phân tích tình hình nhập khẩu mặt hàng gang vào Việt Nam giai đoạn 2021- 2024

Trong giai đoạn từ năm 2021 đến 9 tháng đầu năm 2024, thị phần nhập khẩu gang từ Trung Quốc vào Việt Nam có sự biến động ý. Năm 2021, giá trị nhập khẩu mặt hànggangtừ Trung Quốc vào Việt Nam chiếm 67,95% tổng giá trị nhập khẩu GANG, cho thấy sự phụ thuộc lớn vào nguồn cung từ nước này, trong khi các nước khác chỉ đóng góp 32,05%. Đến năm 2022, thị phần từ Trung Quốc giảm mạnh xuống còn 40,85%, do Việt Nam đẩy mạnh nhập khẩu từ các nước khác, chiếm 59,15% tổng giá trị, nhằm đa dạng hóa nguồn cung ứng để đáp ứng nhu cầu tăng cao. Tuy nhiên, năm 2023 chứng kiến sự phục hồi mạnh mẽ của Trung Quốc, chiếm tới 73,27% thị phần, khi nhập khẩu từ các nước khác giảm đáng kể, chỉ còn 26,73%. Trong 9 tháng đầu năm 2024, thị phần của Trung Quốc giảm nhẹ xuống 66,92%, trong khi nhập khẩu từ các nước khác phục hồi, chiếm 33,08%. 

Biểu đồ 5: Giá trị nhập khẩu mặt hànggangtừ Trung Quốc và các quốc gia khác vào thị trường Việt Nam giai đoạn 2021 – 2024

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: IHS Markit

Nhìn chung, Trung Quốc vẫn giữ vai trò chi phối trong thị trường nhập khẩu gang của Việt Nam, nhưng có xu hướng giảm thị phần vào các năm khi Việt Nam tìm cách đa dạng hóa nguồn cung. Để giảm rủi ro phụ thuộc vào Trung Quốc, Việt Nam cần tiếp tục mở rộng nhập khẩu từ các nước khác thông qua tận dụng các hiệp định thương mại tự do, đồng thời duy trì chiến lược cân bằng giữa giá cả và chất lượng. Việc này sẽ giúp đảm bảo sự ổn định và bền vững trong nguồn cung GANG, phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước.

3. Đánh giá nguy cơ và đề xuất/kiến nghị

Căn cứ vào các phân tích đã thực hiện trong bài báo cáo trên, có thể thấy được rằng đã có sự gia tăng trong xuất khẩu các sản phẩm từ gang từ Việt Nam sang EU. Tuy sự gia tăng này chưa quá đáng báo động nhưng trong tình hình chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, kinh tế Trung Quốc bị suy giảm có thể dần dẫn tới tác động tiêu cực đến hàng xuất khẩu của Việt Nam. Hàng hóa Trung Quốc gặp khó khăn ở thị trường EU sẽ là cơ hội để các nước khác, trong đó có Việt Nam xuất khẩu vào EU. Tuy nhiên, Trung Quốc chắc chắn sẽ tìm cách xuất khẩu sang các nước khác, trong đó có Việt Nam và ngay từ lúc này các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam cần theo dõi và có các giải pháp phù hợp để tránh các vụ kiện về phòng vệ thương mại.

Năm 2024 vẫn sẽ ghi nhận sự tăng trưởng của xuất nhập khẩu các sản phẩm từ gang từ Việt Nam sang EU nhờ vào quá trình hội nhập, mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như thu hút đầu tư trong nước. Tuy nhiên, để tránh việc các sản phẩm thép gian lận xuất xứ tìm đường xuất khẩu thông qua Việt Nam, các cơ quan chức năng cần sớm ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn, xây dựng “hàng rào kỹ thuật” đối với sản phẩm thép nhập khẩu, có biện pháp ngăn chặn chuyển dịch đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ở những công nghệ không thích hợp, quy mô nhỏ, tiêu hao nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường... Ngoài ra, Việt Nam nên hướng việc thu hút đầu tư vào các dự án sản xuất hợp kim và sản phẩm thép chất lượng cao, phục vụ chế tạo, công nghiệp đóng tàu, ôtô... mà trong nước đang thiếu hụt. Các doanh nghiệp tránh việc đầu tư quá nhiều vào các mặt hàng tôn, thép xây dựng thông thường... khiến sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn. Đặc biệt, cần có các biện pháp mạnh tay với tình trạng gian lận, làm giả, nhái thương hiệu... để bảo vệ quyền lợi, công bằng cho các doanh nghiệp chân chính.

Gang xuất khẩu của Việt Nam có tiềm năng phát triển lớn nhờ nguồn nguyên liệu phong phú, chi phí lao động thấp và các ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do như EVFTA.

Thách thức: Tuy nhiên, sản phẩm gang Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức khi tiếp cận thị trường EU, bao gồm các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, môi trường và các biện pháp phòng vệ thương mại.

Cải tiến cần thiết: Để tăng sức cạnh tranh, ngành gang Việt Nam cần đầu tư vào công nghệ sản xuất, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, và đẩy mạnh phát triển bền vững. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp trong ngành tận dụng tốt các cơ hội từ các hiệp định thương mại và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Gang nhập khẩu vào EU phải chịu các loại thuế nhập khẩu tùy thuộc vào mã HS và quốc gia xuất khẩu. Thuế suất có thể thay đổi tùy vào các hiệp định thương mại mà EU ký kết với các đối tác thương mại, ví dụ như các FTA (Hiệp định Thương mại Tự do) có thể giảm thuế hoặc miễn thuế cho một số quốc gia nhất định.

Chứng nhận xuất xứ: Các sản phẩm gang nhập khẩu vào EU cần có chứng nhận xuất xứ rõ ràng để được hưởng ưu đãi thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do hoặc để đảm bảo không có lẩn tránh thuế chống bán phá giá.

-  Thực thi các Biện pháp Phòng vệ Thương mại:

Chống bán phá giá và chống trợ cấp: EU áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với một số sản phẩm gang nhập khẩu từ các quốc gia có hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Các biện pháp này bao gồm việc áp đặt thuế bổ sung lên sản phẩm gang từ các nước bị phát hiện có hành vi bán phá giá hoặc trợ cấp không công bằng, nhằm bảo vệ các nhà sản xuất gang trong EU.

Kiểm tra và giám sát: Các cơ quan hải quan và thương mại của EU thường xuyên tiến hành kiểm tra và giám sát các lô hàng gang nhập khẩu để phát hiện và ngăn chặn việc lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại, chẳng hạn như việc thay đổi xuất xứ của sản phẩm nhằm tránh thuế chống bán phá giá.

- Quản lý Hạn ngạch Nhập khẩu:

Hạn ngạch nhập khẩu: EU có thể áp dụng hạn ngạch nhập khẩu đối với sản phẩm gang nếu nhận thấy sự gia tăng đột biến trong nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất gang nội địa. Hạn ngạch này giới hạn lượng sản phẩm gang được nhập vào EU trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo dõi lượng nhập khẩu: EU cũng tiến hành theo dõi lượng gang nhập khẩu theo thời gian thực để kiểm soát biến động thị trường và điều chỉnh các biện pháp quản lý phù hợp nếu cần thiết.

Để đảm bảo thành công, doanh nghiệp cần chú ý đến một loạt yếu tố quan trọng như tuân thủ quy định pháp lý, quản lý rủi ro, xây dựng chiến lược kinh doanh, và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với các biện pháp thương mại quốc tế.

- Đảm bảo tuân thủ quy định về xuất xứ và thuế quan

Tuân thủ các quy định xuất xứ là yếu tố sống còn khi xuất khẩu vào EU, nơi áp dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về xuất xứ hàng hóa theo các hiệp định thương mại tự do. Cụ thể, doanh nghiệp cần đảm bảo sản phẩm gang xuất khẩu phải đáp ứng quy tắc xuất xứ của Hệ thống Ưu đãi Thuế Quan Tổng quát (GSP) hoặc các hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam tham gia, chẳng hạn như Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA).

Ngoài ra, việc đăng ký theo hệ thống REX (Registered Exporter System) là bắt buộc để sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan. Các chứng từ như Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O form EUR.1) cần được chuẩn bị chính xác và kịp thời. Nếu không đáp ứng, sản phẩm có thể bị từ chối tại biên giới hoặc bị áp mức thuế cao hơn. Doanh nghiệp cũng cần xây dựng hệ thống quản lý xuất xứ minh bạch, đảm bảo tất cả nguyên liệu sử dụng trong quá trình sản xuất được ghi nhận rõ ràng và đúng quy định.

- Theo dõi và đánh giá rủi ro thị trường thường xuyên

EU là một thị trường rộng lớn và phân mảnh, với các quốc gia thành viên có đặc thù kinh tế và nhu cầu khác nhau. Vì vậy, doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi biến động của thị trường và dự báo các rủi ro tiềm ẩn. Điều này bao gồm việc nắm bắt thông tin về nhu cầu của khách hàng, sự thay đổi chính sách thương mại, cạnh tranh từ các đối thủ và xu hướng công nghệ trong ngành cáp quang.

Ngoài ra, doanh nghiệp cần đánh giá các nguy cơ pháp lý liên quan đến biện pháp phòng vệ thương mại, chẳng hạn như điều tra chống bán phá giá hoặc các yêu cầu mới về tiêu chuẩn môi trường. Việc theo dõi thị trường cần đi đôi với khả năng phân tích dữ liệu và dự báo để doanh nghiệp có thể điều chỉnh chiến lược kịp thời, tránh các cú sốc lớn khi xuất khẩu.

- Đa dạng thị trường xuất khẩu

Phụ thuộc quá mức vào một thị trường đơn lẻ như EU có thể tạo ra những rủi ro lớn khi có các biến động kinh tế hoặc chính trị. Doanh nghiệp nên mở rộng thị trường xuất khẩu sang các khu vực khác như Bắc Mỹ, Đông Á hoặc Trung Đông. Trong nội bộ EU, doanh nghiệp cũng cần xem xét đa dạng hóa vào nhiều quốc gia thành viên, tránh tập trung quá mức vào các nước lớn như Đức, Pháp hoặc Anh.

Ngoài ra, việc đa dạng hóa có thể bao gồm việc tìm kiếm các thị trường ngách tại EU. Thay vì cạnh tranh trực tiếp trong các lĩnh vực cáp quang truyền thống, doanh nghiệp có thể tập trung vào các sản phẩm mang tính đặc thù như cáp quang dùng trong lĩnh vực y tế hoặc năng lượng tái tạo, vốn đang phát triển mạnh tại EU.

- Chuẩn bị sẵn sàng cho các biện pháp ứng phó PVTM

Các sản phẩm cáp quang có nguy cơ cao bị điều tra PVTM, đặc biệt khi EU nghi ngờ doanh nghiệp bán phá giá hoặc nhận trợ cấp từ Chính phủ. Để chuẩn bị, doanh nghiệp cần:

Hệ thống hồ sơ minh bạch: Lưu trữ chi tiết về chi phí sản xuất, giá bán, và các nguồn nguyên liệu.

Hợp tác với hiệp hội ngành hàng: Sử dụng các tổ chức này như một kênh để giải quyết tranh chấp thương mại hoặc cung cấp thông tin cần thiết cho cơ quan quản lý.

Tăng cường năng lực pháp lý: Doanh nghiệp nên có đội ngũ chuyên gia pháp lý để xử lý các vấn đề liên quan đến điều tra PVTM, bao gồm việc chuẩn bị hồ sơ và tham gia quá trình điều trần.

PHỤ LỤC

 Thực tiễn điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU

Tính đến tháng 9/2024, EU đã kiện PVTM với hàng xuất khẩu của Việt Nam 17 vụ việc, bao gồm 08 vụ điều tra chống bán phá giá, 01 vụ điều tra chống trợ cấp, 07 vụ việc điều tra lẩn tránh thuế PVTM và 01 vụ điều tra tự vệ.

  • Việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá (CBPG) đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Trong các biện pháp PVTM, CBPG là biện pháp mà EU sử dụng nhiều nhất đối với hàng hóa của Việt Nam. EU đã bắt đầu sử dụng công cụ này với Việt Nam vào năm 1998 với vụ điều tra CBPG đối với Giày dép nhập khẩu từ Việt Nam. Các mặt hàng cũng bị EU điều tra CBPG với Việt Nam là: giày mũ da, xe đạp, chốt thép không gỉ, ống tuýp thép, bật lửa ga.

Bảng 1: Tổng hợp các vụ việc CBPG mà EU tiến hành đối với

Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Nước bị kiện

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2024

Thép cán nóng

7208 10 00, 7208 25 00, 7208 26 00, 7208 27 00, 7208 36 00, 7208 37 00, 7208 38 00, 7208 39 00, 7208 40 00, 7208 52 10, 7208 52 99, 7208 53 10, 7208 53 90, 7208 54 00, 7211 13 00, 7211 14 00, 7211 19 00, 7225 30 90, 7225 40 90, 7226 91 91 và 7226 91 99.

Việt Nam, Ai Cập, Ấn Độ, Nhật Bản

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, EC đã bàn hành Thông báo khởi xướng điều tra CBPG đối với một số sản phẩm thép cán nóng có xuất xứ từ Ai Cập, Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam, nhập khẩu vào EU.

Vụ việc đang được tiến hành điều tra theo quy định.

2

2016

Giày mũ da (mở lại)

Một số sản phẩm thuộc nhóm 6403 và 6405

Việt Nam, Trung Quốc

Quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

3

2005

Giày mũ da

16/03/2011: EC thông báo quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

4

2004

Xe đạp

8712.00.10

8712.00.30

8712.00.80

Việt Nam

Ngày 15/07/2010: EC thông báo quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

5

2004

Chốt thép không gỉ

Một số sản phẩm thuộc nhóm 7318

Việt Nam và một số nước khác

Ngày 20/11/2010: EC thông báo quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

6

2004

Ống tuýp thép

7307.93.11 7307.93.19 7307.99.30 7307.99.90

Việt Nam, Đài Loan

 

08/07/2005: EC thông báo quyết định không áp thuế CBPG

7

2002

Bật lửa ga

 

 

Đơn kiện bị rút lại

8

1998

Giày dép

 

 

Vụ kiện chấm dứt do không có bằng chứng về thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa của EU

Nguồn: Tổng hợp

Hình 1: Xu hướng điều tra CBPG EU tiến hành với Việt Nam đến T9/2024

  • Việc áp dụng các biện pháp chống trợ cấp (CTC) đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Từ năm 1995 đến hết tháng 11/2022, EU chỉ khởi xướng duy nhất vụ điều tra CTC đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam nhưng sau quá trình điều tra, EU quyết định không áp thuế đối với mặt hàng đó.

Bảng 2: Tổng hợp các vụ việc CTC mà EU tiến hành đối với

Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Nước bị kiện

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2013

Sợi polyester

5503.20.00

Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ

16/12/2014: EC thông báo quyết định không áp thuế CTC

 

 Nguồn: VCCI

  • Việc áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Hiện tại EU chỉ đang áp thuế tự vệ đối với một số sản phẩm thép nhập khẩu vào thị trường này với thông tin cụ thể như sau:

Bảng 3: Tổng hợp các vụ việc TV mà EU tiến hành đối với Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2018

Các sản phẩm thép

7208, 7209, 7210, 7211, 7212, 7213, 7214, 7216, 7219, 7220, 7221, 7222, 7225, 7226, 7227, 7228, 7301, 7302, 7304, 7305 và 7306

- Ngày 25/06/2021: EC thông báo tiếp tục áp dụng biện pháp tự vệ sau rà soát cuối kỳ: gia hạn thêm 03 năm (từ ngày 01/07/2021 đến ngày 30/06/2024), áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan (thuế ngoài hạn ngạch: 25%).

- Ngày 25/6/2024, EC công bố quy định về việc gia hạn biện pháp tự vệ đối với thép thêm hai năm nữa, cho đến tháng 6 năm 2026. Quy định này cũng điều chỉnh chức năng của biện pháp này để phù hợp với điều kiện thị trường. 

Nguồn: Bộ Công Thương

Quyết định này diễn ra sau cuộc điều tra do 14 quốc gia thành viên EU yêu cầu, cho thấy biện pháp tự vệ tiếp tục cần thiết để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng cho ngành thép của EU. Ngoài ra, nó cho thấy ngành công nghiệp EU đang điều chỉnh để đáp ứng mức nhập khẩu cao hơn.

Số lượng các biện pháp phòng vệ thương mại và các biện pháp hạn chế thương mại khác do các nước thứ ba khác áp đặt ngày càng tăng gây chuyển hướng xuất trực tiếp hoặc gián tiếp vào EU như Mục 232 của Hoa Kỳ đối với một số sản phẩm thép và biện pháp khác một số nước áp dụng. Chẳng hạn, tháng 8/2023, Mexico đã tăng thuế nhập khẩu từ 15% lên 25% đối với một số sản phẩm thép. Tháng 2/2024 Brazil tăng thuế nhập khẩu đối với một số sản phẩm thép. Tháng 4/2024, Thổ Nhĩ kỳ hạn chế xuất khẩu một số sản phẩm thép sang Israel.

Các điều chỉnh kỹ thuật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2024. Biện pháp này sẽ hết hạn vào ngày 30/6/2026, tám năm sau khi được áp dụng lần đầu tiên, đây là thời gian áp dụng biện pháp tự vệ tối đa được phép theo quy định của EU và WTO. EC vẫn có thể xem xét việc thực hiện biện pháp này trước ngày 30 tháng 6 năm 2026 nếu thấy cần điều chỉnh thêm. Việt Nam cũng là một trong số các nước xuất khẩu sang EU chịu ảnh hưởng của việc gia hạn quy định này.

  • Các vụ việc chống lẩn tránh biện pháp PVTM đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Hình 2: Xu hướng điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại EU tiến hành với Việt Nam đến tháng 9/2024

   

Trong năm 2023, EU đã tiến hành khởi xướng 01 vụ việc điều tra điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá (CBPG) và chống trợ cấp (CTC) đối với sản phẩm thép không gỉ cán nguội của Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc) và Thổ Nhĩ Kỳ. EU đã ban hành Thông báo điều tra đối với vụ việc này từ ngày 11 tháng 8 năm 2023. Vụ việc hiện vẫn đang được tiến hành điều tra theo quy định.

Cùng với việc gia tăng hàng hóa xuất khẩu hàng hóa sang EU, cần lưu ý đến nguy cơ hàng hóa Việt Nam có thể bị điều tra và áp dụng các biện pháp PVTM bởi EU có hệ thống quy định pháp luật chặt chẽ về các nội dung này và rất có kinh nghiệm trong việc sử dụng các công cụ PVTM đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài.

Bảng 4: Tổng hợp các vụ việc chống lẩn tránh thuế mà EU tiến hành đối với Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Nước bị kiện

Nước liên quan

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2023

Thép không gỉ cán nguội

7219 31 00, 7219 32 10, 7219 32 90, 7219 33 10, 7219 33 90, 7219 34 10, 7219 34 90, 7219 35 10, 7219 35 90, 7219 9 0 20, 7219 90 80 , 7220 20 21, 7220 20 29, 7220 20 41, 7220 20 49, 7220 20 81, 7220 20 89, 7220 90 20, 7220 90 80

Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc) và Thổ Nhĩ Kỳ

Indonesia

Vụ việc đang được tiến hành

2

2016

Xe nâng giá kê bằng tay

8427.90.00; 8431 20 00

Việt Nam

Trung Quốc

22/02/2018: Chấm dứt điều tra

3

2012

Bật lửa ga

 

9613.1000

Việt Nam

Trung Quốc

 

4

2004

Đèn huỳnh quang

8539.31.90

Việt Nam Pakistan, Philippines

Trung Quốc

 

5

2004

Vòng khuyên kim loại

8305.10.00.11; 8305.10.00.21

Việt Nam

Trung Quốc

 

6

2003

Ô xít kẽm

 

Việt Nam

Trung Quốc

 

7

1997

Mì chính

2922.42.00.10

Việt Nam, Brazil

Trung Quốc

30/09/2005: EC thông báo quyết định áp thuế hết hiệu lực

Nguồn: Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI

 

 

Tin tức khác