THEO DÕI PHÒNG NGỪA LẨN TRÁNH BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI VÀ GIAN LẬN XUẤT XỨ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THÁP GIÓ THÉP XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU

  1. Tình hình nhập khẩu tháp gió thép vào EU và tương quan thị phần của các mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam
  1. Tổng nhập khẩu từ thế giới vào EU-27

Theo số liệu của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC), trị giá nhập khẩu nhóm hàng tháp điện gió mã HS 850231 vào thị trường EU-27 từ tất cả các thị trường trên thế giới đã giảm sút mạnh trong năm 2021 sau khi đạt mức cao trong các năm 2019-2020.

Đến năm 2023, nhập khẩu tăng 16,2% so với năm 2022, lên mức 2,03 tỷ USD. Tuy nhiên, nhập khẩu lại sụt giảm trong năm 2024, với kết quả 9 tháng đầu năm chỉ đật 833 triệu USD, tương đương mức trung bình 92,5 triệu USD/tháng, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 169,7 triệu USD/tháng của năm 2023.

Biểu đồ 1: Trị giá nhập khẩu mã HS 850231 vào EU-27 giai đoạn 2019-2024

(đvt: nghìn USD)

Nguồn: Tính toán từ số liệu của ITC

EU nhập khẩu nhóm hàng này từ nhiều thị trường, trong đó 2 thị trường ngoại khối dẫn đầu về trị giá là Ấn Độ, Trung Quốc.

Đáng chú ý, nhập khẩu Trung Quốc từ vị trí cao hơn hẳn so với Ấn Độ vào năm 2019, đã điều chỉnh giảm từ năm 2022, đặc biệt là sau khi bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá) và đến năm 2023, thậm chí còn thấp hơn so với cả Ấn Độ.

Biểu đồ 2: Trị  giá nhập khẩu nhóm hàng mã HS 850231 vào EU-27 từ Ấn Độ và Trung Quốc  (đvt: nghìn USD)

Nguồn: Tính toán từ số liệu của ITC

a. Nhóm mã HS 730890

Tính toán từ số liệu của ITC cho thấy trị giá nhập khẩu nhóm hàng mã HS 730890 vào EU-27 đã tăng trong 2 năm 2021 và 2022, sau khi sụt giảm trong năm 2020 vì dịch bệnh. Đến năm 2023, nhập khẩu điều chỉnh giảm nhẹ 4,7%, xuống còn 15,2 tỷ USD. 

Sang năm 2024 nhập khẩu nhóm hàng này có xu hướng tăng mạnh hơn, với trị giá 9 tháng đã đạt 12,3 tỷ USD, trung bình đạt 136,7 triệu USD/tháng, cao hơn so với mức trung bình 127 triệu USD/tháng của năm 2023.

Biểu đồ 3: Trị giá nhập khẩu mã HS 730890 vào EU-27 giai đoạn 2019-2024

(đvt: nghìn USD)

Nguồn: Tính toán từ số liệu của ITC

Trong số các thị trường ngoại khối, Trung Quốc và Vương quốc Anh hiện dẫn đầu về thị phần nhập khẩu nhóm hàng này vào EU-27. Đáng lưu ý là trong khi nhập khẩu nhóm hàng này từ Vương quốc Anh giảm trong năm 2022 và 2023 thì nhập khẩu từ Trung Quốc liên tục trong xu hướng tăng, thậm chí còn tăng mạnh hơn nữa trong năm 2024.

Biểu đồ 4: Trị  giá nhập khẩu nhóm hàng mã HS 730890 vào EU-27 từ Trung Quốc và Vương quốc Anh

(đvt: nghìn USD)

 

Nguồn: Tính toán từ số liệu của ITC

b. Nhóm mã HS 730820

Đối với mã HS 730820, trị giá nhập khẩu vào EU-27 giảm trong năm 2022, nhưng đến năm 2023 lại tăng 13,4%, đạt 1,655 tỷ USD.

Trong 9 tháng năm 2024 với trị giá nhập khẩu 1,38 tỷ USD, trung bình mỗi tháng đạt 153,5 triệu USD, cao hơn so với mức trung bình 137,9 triệu USD/tháng của năm 2023.

EU-27 nhập khẩu nhóm hàng này từ nhiều thị trường, trong đó về thị trường ngoại khối ở châu Á thì Trung Quốc và Ấn Độ dẫn đầu về trị giá trong năm 2023. Tuy nhiên, trong khi thị phần của nhập khẩu từ Ấn Độ đang gia tăng thì thị phần của Trung Quốc lại sụt giảm mạnh.

Nhập khẩu từ Việt Nam từng cao hơn cả Trung Quốc và Ấn Độ trong năm 2021 và 2022.

Biểu đồ 5: Trị giá nhập khẩu mã HS 730820 vào EU-27 giai đoạn 2019-2024

Nguồn: Tính toán từ số liệu của ITC

2. Nhập khẩu từ Việt Nam và tương quan thị phần

  1. Nhóm mã HS 850231:

Theo số liệu của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC), nhập khẩu nhóm hàng mã HS 850231 từ Việt Nam vào EU-27 là không đáng kể, chỉ đạt chưa tới 1 triệu USD/năm, tức là chỉ chiếm khoảng 0,5% thị phần tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này vào EU.

      b. Nhóm mã HS 730890:

Thống kê của ITC cho thấy nhập khẩu nhóm hàng mã HS 730890 từ Việt Nam vào EU-27 bắt đầu phục hồi từ năm 2021 sau dịch bệnh, tăng mạnh trong năm 2022, điều chỉnh giảm trong năm 2023 vì lạm phát.

Đến 9 tháng năm 2024, trị giá nhập khẩu đã 200,5 triệu USD, với mức trung bình 222,8 triệu USD/tháng, cao hơn hẳn so với mức trung bình 170 triệu USD/tháng của năm 2023.

Biểu đồ 6: Tổng trị giá nhập khẩu mã HS 730890 từ Việt Nam vào EU-27 (đvt: nghìn USD)

Nguồn: Tính toán từ số liệu của ITC

          Xét về thị phần:

Tại châu Á, Trung Quốc và Việt Nam là hai nhà xuất khẩu lớn nhất nhóm hàng này vào EU, mặc dù thị phần của hàng nhập khẩu từ Việt Nam thấp hơn nhiều với Trung Quốc.

Thị phần của hàng Việt Nam trong 9 tháng năm 2024 là 1,63% tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này vào EU-27, đã tăng nhiều so với mức 0,08% vào năm 2019. Thị phần của Trung Quốc trong giai đoạn này cũng tăng từ mức 5,76% lên 13,29%, trái ngược với sự sụt giảm thị phần của Vương quốc Anh, nhất là sau khi Anh rời EU.

Biểu đồ 7: So sánh biến động thị phần của nhóm hàng  HS 730890 nhập khẩu từ Việt Nam với các quốc gia cung ứng lớn vào EU-27

Nguồn: Tính toán từ số liệu của ITC

         c. Nhóm mã HS 730820 (Tháp và cột lưới, bằng sắt hoặc thép):

Số liệu từ ITC cho thấy năm 2021, nhập khẩu nhóm hàng mã HS 730820 từ Việt Nam vào EU đạt 205 triệu USD, chiếm thị phần tới 13,34%, cao hơn hẳn so với thị phần của Trung Quốc và Ấn Độ. Đến năm 2022, trị giá nhập khẩu giảm xuống, thị phần của Việt Nam giảm xuống còn hơn 9%, cùng với sự suy giảm của thị phần hàng nhập khẩu từ Trung Quốc và ngược với xu hướng thị phần của Ấn Độ.

3. Đánh giá nguy cơ và đề xuất/kiến nghị

Sản xuất tháp điện gió có ý nghĩa kinh tế rất lớn đối với EU, với giá trị thị trường hàng năm khoảng 1 tỷ euro. Các tháp gió bằng thép do EU sản xuất cũng được lắp đặt trong các tua bin gió ở các nơi khác trên thế giới, vì trên toàn thế giới chỉ có một số ít quốc gia sản xuất tháp gió. Ngành này cũng tạo ra số lượng việc làm lớn tại EU trong bối cảnh kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp là mối quan tâm lớn của chính phủ các nước thành viên EU. Do đó, EU sẽ có xu hướng hỗ trợ sản xuất nội địa, bất chấp các ý kiến cho rằng biện pháp áp thuế nhập khẩu có thể ảnh hưởng đến tiến độ bổ sung công suất điện gió của các nước thành viên trong thời gian tới.

EU đã áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc và do đó có thể tăng cường giám sát để tránh nguy cơ hàng nhập khẩu từ các nước khác gian lận xuất xứ để lẩn tránh biện pháp chống bán phá giá đã áp đặt.

Trong khi đó, ở một thị trường quan trọng khác, nhóm hàng tháp điện gió của Việt Nam cũng đã bị Hoa Kỳ điều tra chống bán phá giá năm 2012 và áp thuế vào năm 2013, mức thuế từ 51,54% - 58,54%. Ngày 12/8/2024, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã đăng công báo kết luận cuối cùng vụ việc rà soát hoàng hôn lần thứ hai lệnh áp thuế chống bán phá giá với tháp gió có mã HS: 7308.20.0020 và 8502.31.0000 nhập khẩu từ Việt Nam. Tại kết luận này, DOC cho rằng việc ngừng áp thuế chống bán phá giá đối với tháp gió nhập khẩu từ Việt Nam có khả năng dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn hành vi bán phá giá với biên độ phá giá bình quân gia quyền lên đến 58,24%.

Với quan ngại hàng hóa từ các nước (ví dụ Việt Nam) không thuận lợi tại thị trường Hoa Kỳ sẽ chuyển hướng vào EU, các biện pháp giám sát từ phía EU sẽ chặt chẽ hơn. Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), tiếp tục khuyến cáo các doanh nghiệp sản xuất nhóm hàng này khi xuất khẩu sang thị trường EU cần theo dõi sát tình hình, chuẩn bị tốt về hồ sơ, chứng từ, không tiếp tay cho các hành vi gian lận xuất xứ, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.

Việc chủ động chuẩn bị sẵn sàng về hồ sơ, chứng từ, cũng như những công bố thông tin trong các báo cáo ngành hàng và báo cáo tài chính của doanh nghiệp là cần thiết, để đảm bảo lợi ích chính đáng cho các doanh nghiệp nhôm của Việt Nam trước các cuộc điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại từ phía EU.

Trước những thách thức hiện tại, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm thiểu nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại là điều cần thiết. Đầu tiên, các doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ và hiện đại. Hệ thống này không chỉ giúp doanh nghiệp theo dõi toàn bộ quá trình sản xuất mà còn đảm bảo rằng các thông tin về chuỗi cung ứng được quản lý chặt chẽ và không thể bị giả mạo. Việc áp dụng công nghệ số hóa như blockchain trong quản lý chuỗi cung ứng cũng là một giải pháp hiệu quả, giúp minh bạch hóa dữ liệu và tăng cường niềm tin với các đối tác quốc tế.

Thứ hai, doanh nghiệp cần đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc xuất xứ của thị trường nhập khẩu, đặc biệt là EU. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất và gia tăng hàm lượng công nghệ trong các sản phẩm tháp gió thép. Đồng thời, doanh nghiệp cần liên tục cập nhật các quy định mới về xuất xứ để tránh bị bất ngờ trước các biện pháp phòng vệ thương mại của các nước nhập khẩu.

Thứ ba, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu là một trong những giải pháp quan trọng để giảm nguy cơ bị cáo buộc là trung tâm lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại. Doanh nghiệp nên tìm kiếm các nguồn cung nguyên liệu từ các quốc gia không bị áp thuế phòng vệ thương mại hoặc đẩy mạnh đầu tư phát triển nguồn cung nội địa. Bên cạnh đó, việc hợp tác với các nhà cung cấp có hồ sơ minh bạch và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc tế cũng là điều cần thiết.

Cơ quan quản lý nhà nước cần đóng vai trò chủ động trong việc hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại. Việc xây dựng các chính sách hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật và đào tạo để doanh nghiệp triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc là điều cần thiết. Ngoài ra, các cơ quan này cũng cần tăng cường công tác giám sát và kiểm tra hoạt động xuất nhập khẩu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.

Hiệp hội ngành hàng cũng có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi của ngành. Các hiệp hội cần chủ động cung cấp thông tin về quy định xuất xứ, tổ chức các chương trình đào tạo kỹ thuật, và đại diện cho doanh nghiệp trong các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại. Đồng thời, hiệp hội cần đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước để đảm bảo các chính sách hỗ trợ được triển khai hiệu quả.

Việc giảm thiểu nguy cơ lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và bị EU điều tra đối với mặt hàng tháp gió thép đòi hỏi sự nỗ lực chung từ phía doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội ngành nghề. Các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực sản xuất, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định quốc tế và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch. Cơ quan quản lý và hiệp hội cần đóng vai trò hỗ trợ và định hướng, đảm bảo ngành tháp gió thép Việt Nam phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế. Chỉ khi các bên cùng phối hợp chặt chẽ, ngành tháp gió thép mới có thể vượt qua thách thức và nắm bắt cơ hội trong thời kỳ hội nhập.

PHỤ LỤC

Thực tiễn điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU

Tính đến tháng 9/2024, EU đã kiện PVTM với hàng xuất khẩu của Việt Nam 17 vụ việc, bao gồm 08 vụ điều tra chống bán phá giá, 01 vụ điều tra chống trợ cấp, 07 vụ việc điều tra lẩn tránh thuế PVTM và 01 vụ điều tra tự vệ.

  • Việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá (CBPG) đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Trong các biện pháp PVTM, CBPG là biện pháp mà EU sử dụng nhiều nhất đối với hàng hóa của Việt Nam. EU đã bắt đầu sử dụng công cụ này với Việt Nam vào năm 1998 với vụ điều tra CBPG đối với Giày dép nhập khẩu từ Việt Nam. Các mặt hàng cũng bị EU điều tra CBPG với Việt Nam là: giày mũ da, xe đạp, chốt thép không gỉ, ống tuýp thép, bật lửa ga.

Bảng 1: Tổng hợp các vụ việc CBPG mà EU tiến hành đối với  Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Nước bị kiện

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2024

Thép cán nóng

7208 10 00, 7208 25 00, 7208 26 00, 7208 27 00, 7208 36 00, 7208 37 00, 7208 38 00, 7208 39 00, 7208 40 00, 7208 52 10, 7208 52 99, 7208 53 10, 7208 53 90, 7208 54 00, 7211 13 00, 7211 14 00, 7211 19 00, 7225 30 90, 7225 40 90, 7226 91 91 và 7226 91 99.

Việt Nam, Ai Cập, Ấn Độ, Nhật Bản

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, EC đã bàn hành Thông báo khởi xướng điều tra CBPG đối với một số sản phẩm thép cán nóng có xuất xứ từ Ai Cập, Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam, nhập khẩu vào EU.

Vụ việc đang được tiến hành điều tra theo quy định.

2

2016

Giày mũ da (mở lại)

Một số sản phẩm thuộc nhóm 6403 và 6405

Việt Nam, Trung Quốc

Quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

3

2005

Giày mũ da

16/03/2011: EC thông báo quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

4

2004

Xe đạp

8712.00.10

8712.00.30

8712.00.80

Việt Nam

Ngày 15/07/2010: EC thông báo quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

5

2004

Chốt thép không gỉ

Một số sản phẩm thuộc nhóm 7318

Việt Nam và một số nước khác

Ngày 20/11/2010: EC thông báo quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

6

2004

Ống tuýp thép

7307.93.11 7307.93.19 7307.99.30 7307.99.90

Việt Nam, Đài Loan

 

08/07/2005: EC thông báo quyết định không áp thuế CBPG

7

2002

Bật lửa ga

 

 

Đơn kiện bị rút lại

8

1998

Giày dép

 

 

Vụ kiện chấm dứt do không có bằng chứng về thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa của EU

Nguồn: Tổng hợp

Hình 1: Xu hướng điều tra CBPG EU tiến hành với Việt Nam đến T9/2024

  • Việc áp dụng các biện pháp chống trợ cấp (CTC) đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Từ năm 1995 đến hết tháng 11/2022, EU chỉ khởi xướng duy nhất vụ điều tra CTC đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam nhưng sau quá trình điều tra, EU quyết định không áp thuế đối với mặt hàng đó.

Bảng 2: Tổng hợp các vụ việc CTC mà EU tiến hành đối với Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Nước bị kiện

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2013

Sợi polyester

5503.20.00

Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ

16/12/2014: EC thông báo quyết định không áp thuế CTC

 

 Nguồn: VCCI

  • Việc áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Hiện tại EU chỉ đang áp thuế tự vệ đối với một số sản phẩm thép nhập khẩu vào thị trường này với thông tin cụ thể như sau:

Bảng 3: Tổng hợp các vụ việc TV mà EU tiến hành đối với Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2018

Các sản phẩm thép

7208, 7209, 7210, 7211, 7212, 7213, 7214, 7216, 7219, 7220, 7221, 7222, 7225, 7226, 7227, 7228, 7301, 7302, 7304, 7305 và 7306

- Ngày 25/06/2021: EC thông báo tiếp tục áp dụng biện pháp tự vệ sau rà soát cuối kỳ: gia hạn thêm 03 năm (từ ngày 01/07/2021 đến ngày 30/06/2024), áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan (thuế ngoài hạn ngạch: 25%).

- Ngày 25/6/2024, EC công bố quy định về việc gia hạn biện pháp tự vệ đối với thép thêm hai năm nữa, cho đến tháng 6 năm 2026. Quy định này cũng điều chỉnh chức năng của biện pháp này để phù hợp với điều kiện thị trường. 

Nguồn: Bộ Công Thương

Quyết định này diễn ra sau cuộc điều tra do 14 quốc gia thành viên EU yêu cầu, cho thấy biện pháp tự vệ tiếp tục cần thiết để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng cho ngành thép của EU. Ngoài ra, nó cho thấy ngành công nghiệp EU đang điều chỉnh để đáp ứng mức nhập khẩu cao hơn.

Số lượng các biện pháp phòng vệ thương mại và các biện pháp hạn chế thương mại khác do các nước thứ ba khác áp đặt ngày càng tăng gây chuyển hướng xuất trực tiếp hoặc gián tiếp vào EU như Mục 232 của Hoa Kỳ đối với một số sản phẩm thép và biện pháp khác một số nước áp dụng. Chẳng hạn, tháng 8/2023, Mexico đã tăng thuế nhập khẩu từ 15% lên 25% đối với một số sản phẩm thép. Tháng 2/2024 Brazil tăng thuế nhập khẩu đối với một số sản phẩm thép. Tháng 4/2024, Thổ Nhĩ kỳ hạn chế xuất khẩu một số sản phẩm thép sang Israel.

Các điều chỉnh kỹ thuật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2024. Biện pháp này sẽ hết hạn vào ngày 30/6/2026, tám năm sau khi được áp dụng lần đầu tiên, đây là thời gian áp dụng biện pháp tự vệ tối đa được phép theo quy định của EU và WTO. EC vẫn có thể xem xét việc thực hiện biện pháp này trước ngày 30 tháng 6 năm 2026 nếu thấy cần điều chỉnh thêm. Việt Nam cũng là một trong số các nước xuất khẩu sang EU chịu ảnh hưởng của việc gia hạn quy định này.

  • Các vụ việc chống lẩn tránh biện pháp PVTM đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Hình 2: Xu hướng điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại EU tiến hành với Việt Nam đến tháng 9/2024

   

Trong năm 2023, EU đã tiến hành khởi xướng 01 vụ việc điều tra điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá (CBPG) và chống trợ cấp (CTC) đối với sản phẩm thép không gỉ cán nguội của Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc) và Thổ Nhĩ Kỳ. EU đã ban hành Thông báo điều tra đối với vụ việc này từ ngày 11 tháng 8 năm 2023. Vụ việc hiện vẫn đang được tiến hành điều tra theo quy định.

Cùng với việc gia tăng hàng hóa xuất khẩu hàng hóa sang EU, cần lưu ý đến nguy cơ hàng hóa Việt Nam có thể bị điều tra và áp dụng các biện pháp PVTM bởi EU có hệ thống quy định pháp luật chặt chẽ về các nội dung này và rất có kinh nghiệm trong việc sử dụng các công cụ PVTM đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài.

Bảng 4: Tổng hợp các vụ việc chống lẩn tránh thuế mà EU tiến hành đối với Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Nước bị kiện

Nước liên quan

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2023

Thép không gỉ cán nguội

7219 31 00, 7219 32 10, 7219 32 90, 7219 33 10, 7219 33 90, 7219 34 10, 7219 34 90, 7219 35 10, 7219 35 90, 7219 9 0 20, 7219 90 80 , 7220 20 21, 7220 20 29, 7220 20 41, 7220 20 49, 7220 20 81, 7220 20 89, 7220 90 20, 7220 90 80

Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc) và Thổ Nhĩ Kỳ

Indonesia

Vụ việc đang được tiến hành

2

2016

Xe nâng giá kê bằng tay

8427.90.00; 8431 20 00

Việt Nam

Trung Quốc

22/02/2018: Chấm dứt điều tra

3

2012

Bật lửa ga

 

9613.1000

Việt Nam

Trung Quốc

 

4

2004

Đèn huỳnh quang

8539.31.90

Việt Nam Pakistan, Philippines

Trung Quốc

 

5

2004

Vòng khuyên kim loại

8305.10.00.11; 8305.10.00.21

Việt Nam

Trung Quốc

 

6

2003

Ô xít kẽm

 

Việt Nam

Trung Quốc

 

7

1997

Mì chính

2922.42.00.10

Việt Nam, Brazil

Trung Quốc

30/09/2005: EC thông báo quyết định áp thuế hết hiệu lực

Nguồn: Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI

 

 

 

Tin tức khác