THEO DÕI PHÒNG NGỪA LẨN TRÁNH BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI VÀ GIAN LẬN XUẤT XỨ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THÉP MẠ CROM XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU

 

 

  1. Phân tích tình hình xuất khẩu mặt hàng thép mạ crom từ Việt Nam vào thị trường EU giai đoạn 2021 – 2024

 

Biểu đồ 1: Giá trị xuất khẩu mặt hàng thép từ Việt Nam vào thị trường EU Quý I giai đoạn 2021 – 2024

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: IHS Markit

Trong giai đoạn Quý I từ năm 2021 đến 2024, giá trị xuất khẩu thép của Việt Nam vào thị trường EU có những biến động rõ rệt. Cụ thể, giá trị xuất khẩu thép của Việt Nam vào thị trường EU Quý I năm 2021 đạt 3,52 triệu USD, sau đó giảm dần trong hai năm liên tiếp, xuống còn 2,65 triệu USD vào Quý I năm 2022 và tiếp tục giảm mạnh xuống 1,94 triệu USD vào Quý I năm 2023. Đến Quý I năm 2024, giá trị xuất khẩu tăng vọt lên 4,02 triệu USD, mức cao nhất trong giai đoạn này. 

 

Biểu đồ 2: Giá trị xuất khẩu mặt hàng thép mạ crom từ Việt Nam vào thị trường EU Quý II giai đoạn 2021 – 2024

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: IHS Markit

Giá trị xuất khẩu thép mạ crom từ Việt Nam vào thị trường EU trong Quý II giai đoạn 2021–2024 có sự biến động. Cụ thể, giá trị xuất khẩu thép của Việt Nam vào thị trường EU Quý II năm 2021 đạt 2,31 triệu USD. Năm 2022, giá trị xuất khẩu thép của Việt Nam vào thị trường EU Quý II giảm xuống còn 1,46 triệu USD. Tuy nhiên, xu hướng bắt đầu đảo chiều mạnh mẽ từ năm 2023, xuất khẩu thép mạ crom của Việt Nam vào thị trường EU Quý II tăng lên 4,24 triệu USD, gấp hơn hai lần so với năm trước, cho thấy dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng tích cực. Đến Quý II/2024, giá trị xuất khẩu tiếp tục đạt mức cao nhất trong giai đoạn, với 5,02 triệu USD.

Biểu đồ 3: Giá trị xuất khẩu mặt hàng thép mạ crom từ Việt Nam vào thị trường EU Quý III giai đoạn 2021 – 2024

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: IHS Markit

Trong giai đoạn Quý III từ năm 2021 đến 2024, giá trị xuất khẩu thép mạ crom của Việt Nam vào EU có xu hướng biến động không đồng đều. Năm 2021, giá trị xuất khẩu ở mức 0,92 triệu USD. Đến năm 2022, xuất khẩu trong Quý III tăng lên mức 2,43 triệu USD. Tuy nhiên, đến trong Quý III năm 2023, giá trị xuất khẩu thép mạ crom của Việt Nam vào EU lại giảm xuống còn 1,24 triệu USD. Quý III năm 2024, giá trị xuất khẩu tăng vọt lên 5,89 triệu USD, cao gấp hơn ba lần so với cùng kì năm trước.

Biểu đồ 4: Giá trị xuất khẩu mặt hàng thép mạ crom từ Việt Nam vào thị trường EU Quý IV giai đoạn 2021 – 2023

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: IHS Markit

Trong giai đoạn Quý IV từ năm 2021 đến 2023, giá trị xuất khẩu thép mạ crom của Việt Nam vào thị trường EU ghi nhận xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ và liên tục. Cụ thể, Quý IV năm 2021, giá trị xuất khẩu đạt mức 1,23 triệu USD. Sang Quý IV năm 2022, con số này tăng hơn gấp ba, đạt 4,41 triệu USD. Đến Quý IV/2023, giá trị tiếp tục tăng lên mức 5,01 triệu USD, cao gấp hơn bốn lần so với năm 2021, thể hiện đà tăng trưởng bền vững. 

Xu hướng của thép mạ Crom đang phát triển theo những thay đổi và yêu cầu từ các ngành công nghiệp khác nhau, đặc biệt là trong bối cảnh phát triển công nghệ và sự tăng cường nhu cầu bảo vệ môi trường. Dưới đây là một số xu hướng chính trong thị trường thép mạ Crom:

+ Ô tô và công nghiệp hàng không: Nhu cầu về thép mạ Crom trong ngành ô tô và hàng không đang tăng cao do yêu cầu về độ bền, khả năng chống ăn mòn và trọng lượng nhẹ. Các nhà sản xuất ô tô và máy bay yêu cầu vật liệu chịu được các điều kiện khắc nghiệt, đặc biệt là khả năng chống rỉ sét, mà vẫn duy trì độ thẩm mỹ cao.

+ Ngành xây dựng: Thép mạ Crom ngày càng được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, từ kết cấu thép cho đến các thiết bị nội thất, nhờ khả năng chịu được môi trường khắc nghiệt, bao gồm môi trường ẩm ướt và tiếp xúc với hóa chất.

+ Gia dụng và điện tử: Sự gia tăng của các sản phẩm điện tử và thiết bị gia dụng đòi hỏi các vật liệu có độ bóng, thẩm mỹ cao, đồng thời có khả năng chịu mài mòn và gỉ sét, khiến thép mạ Crom trở thành lựa chọn lý tưởng.

+ Biện pháp phòng vệ thương mại: Một số thị trường lớn, như EU và Mỹ, có thể áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với thép mạ Crom do lo ngại về cạnh tranh không lành mạnh hoặc nhập khẩu ồ ạt. Điều này đòi hỏi các nhà xuất khẩu thép mạ Crom phải chú ý đến các quy định về chống bán phá giá, chống trợ cấp, và các biện pháp bảo hộ khác để tránh rủi ro thương mại.

  1. Phân tích tình hình nhập khẩu mặt hàng thép mạ crom vào Việt Nam giai đoạn 2021- 2024

Trong giai đoạn từ năm 2021 đến 10 tháng đầu năm 2024, thị phần nhập khẩu thép mạ crom từ Trung Quốc vào Việt Nam có sự biến động ít. Năm 2021, giá trị nhập khẩu mặt hàng thép mạ crom từ Trung Quốc vào Việt Nam chiếm 64,26% tổng giá trị nhập khẩu thép mạ crom, cho thấy sự phụ thuộc lớn vào nguồn cung từ nước này, trong khi các nước khác chỉ đóng góp 35,74%. Đến năm 2022, thị phần từ Trung Quốc giảm mạnh xuống còn 32,92%, do Việt Nam đẩy mạnh nhập khẩu từ các nước khác, chiếm 67,08% tổng giá trị, nhằm đa dạng hóa nguồn cung ứng để đáp ứng nhu cầu tăng cao. Tuy nhiên, năm 2023 chứng kiến sự phục hồi mạnh mẽ của Trung Quốc, chiếm tới 54,62% thị phần, khi nhập khẩu từ các nước khác giảm đáng kể, chỉ còn 45,38%. Trong 10 tháng đầu năm 2024, thị phần của Trung Quốc giảm nhẹ xuống 65,38%, trong khi nhập khẩu từ các nước khác phục hồi, chiếm 34,62%. 

Biểu đồ 5: Giá trị nhập khẩu mặt hàng thép mạ crom từ Trung Quốc và các quốc gia khác vào thị trường Việt Nam giai đoạn 2021 – 2024

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: IHS Markit

Nhìn chung, Trung Quốc vẫn giữ vai trò chi phối trong thị trường nhập khẩu thép mạ crom của Việt Nam, nhưng có xu hướng giảm thị phần vào các năm khi Việt Nam tìm cách đa dạng hóa nguồn cung. Để giảm rủi ro phụ thuộc vào Trung Quốc, Việt Nam cần tiếp tục mở rộng nhập khẩu từ các nước khác thông qua tận dụng các hiệp định thương mại tự do, đồng thời duy trì chiến lược cân bằng giữa giá cả và chất lượng. Việc này sẽ giúp đảm bảo sự ổn định và bền vững trong nguồn cung thép mạ crom, phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước.

3. Đánh giá nguy cơ và đề xuất/kiến nghị

Từ việc theo dõi, phân tích số liệu xuất khẩu và nhập khẩu đối với mặt hànggangđể đánh giá nguy cơ lẩn tránh biện pháp PVTM qua VN, hoặc nguy cơ bị điều tra PVTM từ EU.

Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật Bản là những quốc gia sản xuất thép mạ Crom lớn trên thế giới với năng lực sản xuất vượt trội, công nghệ tiên tiến và giá thành cạnh tranh. Sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nhà sản xuất này có thể khiến thép mạ Crom của Việt Nam gặp khó khăn trong việc duy trì thị phần, đặc biệt là tại các thị trường lớn như EU và Mỹ.

Giá nguyên liệu thép, năng lượng, và các chi phí sản xuất khác có xu hướng biến động mạnh trên thị trường toàn cầu. Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm thép mạ Crom của Việt Nam, làm giảm tính cạnh tranh so với các quốc gia khác.

Các quy định như REACH (Liên minh châu Âu) và các tiêu chuẩn môi trường toàn cầu đang yêu cầu loại bỏ hoặc giảm sử dụng Crom sáu hóa trị (Cr(VI)), vốn là chất độc hại cho sức khỏe và môi trường. Sự thay đổi này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải đầu tư vào công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, nếu không sẽ gặp khó khăn trong việc đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của các thị trường cao cấp.

Một số thị trường yêu cầu thép mạ Crom phải tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng khắt khe hơn về độ bền, khả năng chống ăn mòn, và tính thẩm mỹ, buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng cải tiến sản phẩm.

Nâng cao hiểu biết và tuân thủ các quy định phòng vệ thương mại quốc tế: Doanh nghiệp xuất khẩu thép mạ Crom cần hiểu rõ và tuân thủ các quy định phòng vệ thương mại của từng thị trường xuất khẩu. Điều này bao gồm việc thu thập thông tin về giá bán, cấu trúc chi phí, và hỗ trợ từ chính phủ để tránh rủi ro bị cáo buộc bán phá giá hoặc trợ cấp.

Các doanh nghiệp cần thường xuyên phối hợp với Cục Phòng vệ Thương mại để theo dõi tình hình xuất khẩu, cảnh báo sớm các rủi ro liên quan đến điều tra phòng vệ thương mại. Đồng thời, tăng cường trao đổi thông tin và tham gia các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại.

Doanh nghiệp cần chuyển đổi sang công nghệ mạ Crom ba hóa trị (Cr(III)) để đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về môi trường, đặc biệt là tại thị trường châu Âu. Đồng thời, áp dụng các công nghệ mạ tiên tiến khác như mạ nano hoặc mạ đa lớp để nâng cao khả năng chống ăn mòn và độ bền của sản phẩm.

Doanh nghiệp cần đầu tư vào hệ thống kiểm tra chất lượng hiện đại để đảm bảo sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường quốc tế, đồng thời đảm bảo độ bền, khả năng chống ăn mòn và tính thẩm mỹ của thép mạ Crom.

Doanh nghiệp nên đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu để giảm phụ thuộc vào một vài thị trường lớn và giảm rủi ro từ các biện pháp phòng vệ thương mại. Các thị trường mới nổi ở châu Á và châu Phi đang có nhu cầu cao về sản phẩm thép và có thể là cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Tập trung phát triển thương hiệu quốc tế và cung cấp các sản phẩm thép mạ Crom chất lượng cao với giá trị gia tăng thông qua các dịch vụ hậu mãi, bảo hành, và hỗ trợ kỹ thuật sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

Nguy cơ đối với ngành thép mạ Crom của Việt Nam là hiện hữu, đặc biệt từ các biện pháp phòng vệ thương mại và yêu cầu về môi trường. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tích cực đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, và xây dựng chiến lược phát triển bền vững, thép mạ Crom của Việt Nam có thể duy trì được vị thế cạnh tranh và mở rộng thị trường quốc tế. Việc chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng và tăng cường liên kết trong ngành cũng là yếu tố quan trọng giúp ngành thép Việt Nam vượt qua thách thức và phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai.

 

 

 

PHỤ LỤC

Thực tiễn điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU

Tính đến tháng 9/2024, EU đã kiện PVTM với hàng xuất khẩu của Việt Nam 17 vụ việc, bao gồm 08 vụ điều tra chống bán phá giá, 01 vụ điều tra chống trợ cấp, 07 vụ việc điều tra lẩn tránh thuế PVTM và 01 vụ điều tra tự vệ.

  • Việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá (CBPG) đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Trong các biện pháp PVTM, CBPG là biện pháp mà EU sử dụng nhiều nhất đối với hàng hóa của Việt Nam. EU đã bắt đầu sử dụng công cụ này với Việt Nam vào năm 1998 với vụ điều tra CBPG đối với Giày dép nhập khẩu từ Việt Nam. Các mặt hàng cũng bị EU điều tra CBPG với Việt Nam là: giày mũ da, xe đạp, chốt thép không gỉ, ống tuýp thép, bật lửa ga.

Bảng 1: Tổng hợp các vụ việc CBPG mà EU tiến hành đối với

Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Nước bị kiện

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2024

Thép cán nóng

7208 10 00, 7208 25 00, 7208 26 00, 7208 27 00, 7208 36 00, 7208 37 00, 7208 38 00, 7208 39 00, 7208 40 00, 7208 52 10, 7208 52 99, 7208 53 10, 7208 53 90, 7208 54 00, 7211 13 00, 7211 14 00, 7211 19 00, 7225 30 90, 7225 40 90, 7226 91 91 và 7226 91 99.

Việt Nam, Ai Cập, Ấn Độ, Nhật Bản

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, EC đã bàn hành Thông báo khởi xướng điều tra CBPG đối với một số sản phẩm thép cán nóng có xuất xứ từ Ai Cập, Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam, nhập khẩu vào EU.

Vụ việc đang được tiến hành điều tra theo quy định.

2

2016

Giày mũ da (mở lại)

Một số sản phẩm thuộc nhóm 6403 và 6405

Việt Nam, Trung Quốc

Quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

3

2005

Giày mũ da

16/03/2011: EC thông báo quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

4

2004

Xe đạp

8712.00.10

8712.00.30

8712.00.80

Việt Nam

Ngày 15/07/2010: EC thông báo quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

5

2004

Chốt thép không gỉ

Một số sản phẩm thuộc nhóm 7318

Việt Nam và một số nước khác

Ngày 20/11/2010: EC thông báo quyết định áp thuế CBPG hết hiệu lực

6

2004

Ống tuýp thép

7307.93.11 7307.93.19 7307.99.30 7307.99.90

Việt Nam, Đài Loan

 

08/07/2005: EC thông báo quyết định không áp thuế CBPG

7

2002

Bật lửa ga

 

 

Đơn kiện bị rút lại

8

1998

Giày dép

 

 

Vụ kiện chấm dứt do không có bằng chứng về thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa của EU

Nguồn: Tổng hợp

Hình 1: Xu hướng điều tra CBPG EU tiến hành với Việt Nam đến T9/2024

  • Việc áp dụng các biện pháp chống trợ cấp (CTC) đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Từ năm 1995 đến hết tháng 11/2022, EU chỉ khởi xướng duy nhất vụ điều tra CTC đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam nhưng sau quá trình điều tra, EU quyết định không áp thuế đối với mặt hàng đó.

Bảng 2: Tổng hợp các vụ việc CTC mà EU tiến hành đối với

Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Nước bị kiện

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2013

Sợi polyester

5503.20.00

Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ

16/12/2014: EC thông báo quyết định không áp thuế CTC

 

 Nguồn: VCCI

  • Việc áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Hiện tại EU chỉ đang áp thuế tự vệ đối với một số sản phẩm thép nhập khẩu vào thị trường này với thông tin cụ thể như sau:

Bảng 3: Tổng hợp các vụ việc TV mà EU tiến hành đối với Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2018

Các sản phẩm thép

7208, 7209, 7210, 7211, 7212, 7213, 7214, 7216, 7219, 7220, 7221, 7222, 7225, 7226, 7227, 7228, 7301, 7302, 7304, 7305 và 7306

- Ngày 25/06/2021: EC thông báo tiếp tục áp dụng biện pháp tự vệ sau rà soát cuối kỳ: gia hạn thêm 03 năm (từ ngày 01/07/2021 đến ngày 30/06/2024), áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan (thuế ngoài hạn ngạch: 25%).

- Ngày 25/6/2024, EC công bố quy định về việc gia hạn biện pháp tự vệ đối với thép thêm hai năm nữa, cho đến tháng 6 năm 2026. Quy định này cũng điều chỉnh chức năng của biện pháp này để phù hợp với điều kiện thị trường. 

Nguồn: Bộ Công Thương

Quyết định này diễn ra sau cuộc điều tra do 14 quốc gia thành viên EU yêu cầu, cho thấy biện pháp tự vệ tiếp tục cần thiết để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng cho ngành thép của EU. Ngoài ra, nó cho thấy ngành công nghiệp EU đang điều chỉnh để đáp ứng mức nhập khẩu cao hơn.

Số lượng các biện pháp phòng vệ thương mại và các biện pháp hạn chế thương mại khác do các nước thứ ba khác áp đặt ngày càng tăng gây chuyển hướng xuất trực tiếp hoặc gián tiếp vào EU như Mục 232 của Hoa Kỳ đối với một số sản phẩm thép và biện pháp khác một số nước áp dụng. Chẳng hạn, tháng 8/2023, Mexico đã tăng thuế nhập khẩu từ 15% lên 25% đối với một số sản phẩm thép. Tháng 2/2024 Brazil tăng thuế nhập khẩu đối với một số sản phẩm thép. Tháng 4/2024, Thổ Nhĩ kỳ hạn chế xuất khẩu một số sản phẩm thép sang Israel.

Các điều chỉnh kỹ thuật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2024. Biện pháp này sẽ hết hạn vào ngày 30/6/2026, tám năm sau khi được áp dụng lần đầu tiên, đây là thời gian áp dụng biện pháp tự vệ tối đa được phép theo quy định của EU và WTO. EC vẫn có thể xem xét việc thực hiện biện pháp này trước ngày 30 tháng 6 năm 2026 nếu thấy cần điều chỉnh thêm. Việt Nam cũng là một trong số các nước xuất khẩu sang EU chịu ảnh hưởng của việc gia hạn quy định này.

  • Các vụ việc chống lẩn tránh biện pháp PVTM đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU:

Hình 2: Xu hướng điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại EU tiến hành với Việt Nam đến tháng 9/2024

   

Trong năm 2023, EU đã tiến hành khởi xướng 01 vụ việc điều tra điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá (CBPG) và chống trợ cấp (CTC) đối với sản phẩm thép không gỉ cán nguội của Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc) và Thổ Nhĩ Kỳ. EU đã ban hành Thông báo điều tra đối với vụ việc này từ ngày 11 tháng 8 năm 2023. Vụ việc hiện vẫn đang được tiến hành điều tra theo quy định.

Cùng với việc gia tăng hàng hóa xuất khẩu hàng hóa sang EU, cần lưu ý đến nguy cơ hàng hóa Việt Nam có thể bị điều tra và áp dụng các biện pháp PVTM bởi EU có hệ thống quy định pháp luật chặt chẽ về các nội dung này và rất có kinh nghiệm trong việc sử dụng các công cụ PVTM đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài.

 

Bảng 4: Tổng hợp các vụ việc chống lẩn tránh thuế mà EU tiến hành đối với Việt Nam tính đến tháng 9/2024

STT

Năm

Mặt hàng bị kiện

Mã HS

Nước bị kiện

Nước liên quan

Thông tin/Tiến trình vụ việc

1

2023

Thép không gỉ cán nguội

7219 31 00, 7219 32 10, 7219 32 90, 7219 33 10, 7219 33 90, 7219 34 10, 7219 34 90, 7219 35 10, 7219 35 90, 7219 9 0 20, 7219 90 80 , 7220 20 21, 7220 20 29, 7220 20 41, 7220 20 49, 7220 20 81, 7220 20 89, 7220 90 20, 7220 90 80

Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc) và Thổ Nhĩ Kỳ

Indonesia

Vụ việc đang được tiến hành

2

2016

Xe nâng giá kê bằng tay

8427.90.00; 8431 20 00

Việt Nam

Trung Quốc

22/02/2018: Chấm dứt điều tra

3

2012

Bật lửa ga

 

9613.1000

Việt Nam

Trung Quốc

 

4

2004

Đèn huỳnh quang

8539.31.90

Việt Nam Pakistan, Philippines

Trung Quốc

 

5

2004

Vòng khuyên kim loại

8305.10.00.11; 8305.10.00.21

Việt Nam

Trung Quốc

 

6

2003

Ô xít kẽm

 

Việt Nam

Trung Quốc

 

7

1997

Mì chính

2922.42.00.10

Việt Nam, Brazil

Trung Quốc

30/09/2005: EC thông báo quyết định áp thuế hết hiệu lực

Nguồn: Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI

 

 

Tin tức khác