Các biện pháp phòng vệ thương mại của Úc
Các biện pháp phòng vệ thương mại (bao gồm chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ) là những công cụ có thể tạo ra rào cản đối với luồng hàng hóa nhập khẩu (thông qua việc điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và sau đó áp dụng biện pháp thuế bổ sung/hạn chế nhập khẩu). Đây là các biện pháp mà WTO cho phép nước nhập khẩu được sử dụng để đối phó với tình trạng hàng nhập khẩu từ nước ngoài bán phá giá, được trợ cấp hoặc nhập khẩu ồ ạt vào nước mình gây thiệt hại đáng kể hoặc nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, WTO yêu cầu các nước nhập khẩu khi điều tra và áp dụng các biện pháp này phải tuân thủ những điều kiện, yêu cầu cũng như các trình tự, thủ tục nhất định.
Úc là một nước sử dụng khá phổ biến các công cụ phòng vệ thương mại. Hiện tại, các biện pháp phòng vệ thương mại mà Úc đã và đang sử dụng: biện pháp chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp, biện pháp tự vệ và biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào nước này.
Trong thương mại quốc tế, “biện pháp phòng vệ thương mại” là cụm từ chung để chỉ nhóm các biện pháp được sử dụng với mục tiêu bảo vệ sản xuất nội địa trước hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, bao gồm:
- Biện pháp chống bán phá giá: phòng vệ chống lại hiện tượng hàng hóa nước ngoài nhập khẩu bán phá giá gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu;
- Biện pháp chống trợ cấp: phòng vệ chống lại hiện tượng hàng hóa nước ngoài nhập khẩu được trợ cấp gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu;
- Biện pháp tự vệ: phòng vệ chống lại hiện tượng hàng hóa nhập khẩu tăng đột biến gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu.
Các Hiệp định của WTO về chống bán phá giá (ADA), chống trợ cấp (SCM) và tự vệ (SG) quy định các nguyên tắc thống nhất bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên khi xây dựng pháp luật và áp dụng trong thực tiễn các biện pháp phòng vệ này.
Pháp luật về biện pháp PVTM cấp của Úc được quy định tại Đạo luật Thuế quan 1901. Cơ quan điều tra các vụ việc PVTM của Úc là Ủy ban Chống bán phá giá Úc (viết tắt: ADC).
Úc là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), do vậy Úc có nghĩa vụ đảm bảo rằng các quy định và việc thực thi các quy định liên quan đến biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ của Úc phù hợp với các nguyên tắc trong các Hiệp định liên quan của WTO. Trường hợp nhận thấy Úc có quy định pháp luật hoặc cơ quan điều tra của Úc trên thực tế không phù hợp với các quy định của WTO, các quốc gia thành viên WTO có thể khiếu kiện Úc ra Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (theo thủ tục giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO). WTO có 04 Hiệp định quy định các nguyên tắc cơ bản về các biện pháp phòng vệ thương mại, bao gồm:
- Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1994): Hiệp định về thương mại hàng hóa này có chứa một số điều khoản về các biện pháp phòng vệ thương mại;
- Hiệp định về chống bán phá giá giá (Antidumping Agreement – ADA) : Quy định cụ thể và chuyên biệt về biện pháp chống bán phá giá;
- Hiệp định về trợ cấp và thuế đối kháng (Subsidy and Countervailing Measures Agreement - SCM) : Một phần quan trọng của Hiệp định này quy định về biện pháp chống trợ cấp ;
- Hiệp định về biện pháp Tự vệ (Safeguards Agreement - SG) : Quy định cụ thể và chuyên biệt về biện pháp tự vệ.
Các quy định tại các Hiệp định này là bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên WTO. Nói cách khác, mỗi quốc gia thành viên WTO có quyền ban hành và áp dụng pháp luật về PVTM thương mại riêng của nước mình nhưng phải tuân thủ đầy đủ các qui định mang tính bắt buộc về nội dung cũng như thủ tục trong Hiệp định ADA, SCM và SG của WTO. Pháp luật nội địa của mỗi quốc gia có thể cụ thể hoá nhưng không được trái với các qui định liên quan tại các Hiệp định này của WTO.
Tại Úc, các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được coi là hai trụ cột của hệ thống các biện pháp phòng vệ thương mại trong thương mại quốc tế và được sử dụng như một chiếc van an toàn để bảo vệ thị trường trong nước trước sự thâm nhập của hàng hóa nước ngoài. Về bản chất, biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được áp dụng để đối phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không công bằng của hàng hóa nhập khẩu. Trong khi biện pháp chống bán phá giá là để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh thì biện pháp chống trợ cấp được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa trong nước xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu. Cụ thể:
Hành vi bán phá giá được xác định khi hàng hóa được xuất khẩu cho các nhà nhập khẩu tại Úc với giá thấp hơn giá bán của hàng hóa đó tại nước xuất khẩu hoặc khi hàng hóa được bán cho Úc với giá không có lợi cho ngành sản xuất nội địa. Lượng bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu có thể được bù đắp bằng việc áp dụng thuế "chống bán phá giá".
Trong khi đó, hành vi trợ cấp xảy ra khi hàng hóa nhập khẩu vào Úc được hưởng lợi từ hỗ trợ tài chính của chính phủ nước xuất khẩu. Số tiền trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu có thể được bù đắp bằng việc áp dụng thuế "đối kháng". Ví dụ về trợ cấp: cho vay với lãi suất ưu đãi, các khoản trợ cấp, ưu đãi thuế,…
Khi hàng hóa nhập khẩu vào Úc được cho là có hành cạnh tranh không công bằng, nếu các hàng hóa này gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc hoặc bị đe dọa gây thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước thì biện pháp chống bán phá và chống trợ cấp sẽ được áp dụng.
Bên cạnh đó, biện pháp tự vệ chỉ được áp sau khi có sự điều tra đầy đủ bởi cơ quan có thẩm quyền là Ủy ban Năng suất (Productivity Commission). Các thủ tục về điều tra tự vệ của Úc được quy định tại Công báo của Khối thịnh vượng chung số S 297 ngày 25/6/1998 (thông báo ra WTO tại tài liệu G/SG/1/AUS/2 ngày 2/7/1998) và sửa đổi bởi Công báo số GN 39 ngày 5/10/2005). Ngành sản xuất Úc muốn sử dụng biện pháp này phải gửi đơn đến Bộ trưởng quản lý sản phẩm liên quan hoặc Bộ trưởng Thương mại, du lịch và đầu tư.
Nếu chính phủ Úc quyết định khởi xướng điều tra, Bộ trưởng Bộ Tài chính có thể đưa vấn đề này cho Ủy ban Năng suất để yêu cầu, và có thể yêu cầu có báo cáo sớm về việc ban hành biện pháp tạm thời. Thông báo công khai về việc khởi xướng điều tra do Ủy ban Năng suất thực hiện và cuộc điều tra sẽ bao gồm phiên tranh tụng hoặc các thủ tục cần thiết khác để các bên liên quan có cơ hội thể hiện quan điểm.
Năm 2021, tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Úc lần đầu tiên vượt ngưỡng 12,4 tỷ USD, tăng 49,45% so với năm 2020.
Những con số trên ghi nhận dấu mốc mới tích cực trong mối quan hệ kinh tế - thương mại của hai quốc gia, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam và Úc hoàn tất ký kết Chiến lược Tăng cường Gắn kết Kinh tế, nhằm hỗ trợ tham vọng chung là đưa hai nước trở thành đối tác thương mại hàng đầu của nhau và tăng gấp đôi đầu tư hai chiều.
Xét riêng về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Úc, báo cáo của Thương vụ Việt Nam tại Úc cho thấy, mặc dù nguồn cung hàng hóa và hoạt động vận chuyển quốc tế gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19, nhưng sau 12 tháng của năm 2021, hầu hết các mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Úc đều có sự tăng trưởng tốt so với năm 2020.
Kim ngạch các nhóm mặt hàng nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất có mức tăng mạnh, cao trung bình từ hai đến ba con số so với năm trước. Hàng hóa công nghiệp chế biến chế tạo, bao gồm hàng dệt, may, da giày, máy móc thiết bị phụ tùng, phương tiện vận tải và phụ tùng tiếp tục tăng ấn tượng, đặc biệt là hàng dệt may tăng trưởng cao hơn 42,23%. Kim ngạch của các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như nông, thủy sản... cũng vượt trội so với năm trước đó. Cụ thể, thủy sản tăng 16,03%, gạo tăng 34,36%; hàng rau quả tăng 28,15%; hạt tiêu tăng 41,98%...
Kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Úc đạt gần 12 tỷ USD, tăng 33,4%, mức tăng rất có ý nghĩa khi kim ngạch đã tăng lên mức kỷ lục vào năm 2021.
Xét về tổng thể, các mục tiêu thương mại song phương đã đạt được một cách nhanh chóng theo chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao hai nước.
Kết quả tích cực trên có phần đóng góp của cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Úc trong triển khai đồng đều kế hoạch hành động, cân bằng giữa nghiên cứu thị trường và các giải pháp xúc tiến thương mại.
Trong giai đoạn từ tháng 1-9/2022, xuất khẩu từ Việt Nam sang Úc đạt hơn 4,2 tỷ USD, tăng gần 34%.
Úc là nền kinh tế lớn thứ 13 trên thế giới với kim ngạch nhập khẩu hàng hóa gần 250 tỷ USD/năm. Dù quy mô dân số khá nhỏ, chỉ 25,7 triệu dân nhưng đây là thị trường rất tiềm năng bởi người dân sẵn sàng trả giá cao cho các sản phẩm chất lượng và cũng cởi mở với hàng hóa nhập khẩu.
Lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang Úc là cơ cấu hàng hóa của hai quốc gia mang tính tương hỗ nhau rất tốt. Việt Nam xuất khẩu sang Úc nhiều mặt hàng nông sản, thủy hải sản, gỗ và sản phẩm từ gỗ, máy móc, phương tiện vận tải và sắt thép các loại. Ngược lại, Việt Nam nhập khẩu từ Úc nguyên phụ liệu dệt may, nguyên phụ liệu da giày, than đá, quặng sắt, sữa các sản phẩm từ sữa, hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất. Theo Thương vụ Việt Nam tại Úc, kim ngạch xuất khẩu của hàng Việt Nam sang Úc đạt hơn 2,78 tỷ USD, tăng hơn 691,35 triệu USD. Trong các nhóm hàng có giá trị XK lớn là: điện thoại các loại và linh kiện tăng 22,92%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 14,12%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 91,47%.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2022, kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Úc đạt hơn 8,01 tỷ USD, tăng 38,45% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó: xuất khẩu của Việt Nam sang Úc đạt hơn 2,78 tỷ USD, tăng 33,07%; nhập khẩu của Việt Nam từ Úc đạt hơn 5,23 tỷ USD tăng 41,50%.
Ba là, hợp tác với các bên có cùng lợi ích.
Các DN không nên làm việc một mình, mà cần phối hợp với các bên có liên quan. Các công tác ứng phó cũng như phối hợp với các bên, DN có thể theo dõi các khuyến nghị tại các giai đoạn điều tra cụ thể. Các bên liên quan mà DN cần phối hợp trong điều tra gồm: Cục PVTM (Bộ Công Thương) là cơ quan đầu mối thông tin, tham vấn pháp lý, hỗ trợ DN trong quá trình tham gia vụ việc điều tra PVTM; Hiệp hội và các DN cùng ngành sẽ tạo ra sức mạnh đoàn kết, chia sẻ chi phí cũng như kinh nghiệm trong quá trình ứng phó vụ việc.
Bốn là chủ động nâng cao năng lực của chính DN.
DN cần đa dạng hoá thị trường, tránh phát triển xuất khẩu quá nóng trong một thị trường cụ thể; tăng cường cạnh tranh bằng chất lượng và hạn chế cạnh tranh bằng giá cả; cân nhắc kỹ các rủi ro khi xây dựng chiến lược thương mại và sản xuất. Các DN cũng cần coi các biện pháp PVTM là một phần trong chiến lược sản xuất, kinh doanh xuất khẩu của mình. Mặt khác, các DN cũng đề nghị các cơ quan chức năng đẩy mạnh đấu tranh buộc nước nhập khẩu dỡ bỏ quy định xếp Việt Nam vào thị trường đặc biệt - một trong những yếu tố khiến DN Việt Nam khó thắng kiện PVTM.
Đối với các thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp cần có những rà soát và cảnh báo sớm về nguy cơ bị điều tra các vụ việc phòng vệ thương mại. Hiện nay, Bộ Công Thương đang triển khai xây dựng Hệ thống cảnh báo sớm các vụ việc phòng vệ thương mại để doanh nghiệp có thể tiếp cận các thông tin và các tư vấn cảnh báo hiệu quả. Bộ Công Thương vẫn đăng tải Danh sách cảnh báo sản phẩm có nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, điều tra lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại tại website của Cục Phòng vệ thương mại (www.pvtm.gov.vn) Doanh nghiệp cần theo dõi sát các cảnh báo này để có những cân nhắc điều chỉnh phù hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cùng với việc tham khảo các cảnh báo của cục PVTM, doan nghiệp cũng có thể chủ động theo dõi một số khía cạnh để tự đưa ra cảnh báo:
Nghiên cứu về thị trường xuất khẩu cũng như theo dõi về lượng nhập khẩu hàng hóa xuất khẩu để tự có những phân tích cảnh báo cho mình. Theo kinh nghiệm thực tiễn, việc gia tăng hàng hóa nhập khẩu đột biến cũng là một tiêu chí đánh giá về khả năng nước xuất khẩu xem xét điều tra áp dụng biện pháp PVTM. Do vậy, việc theo dõi tình hình nhập khẩu của các thị trường xuất khẩu trọng điểm sẽ là một căn cứ cảnh báo sớm quan trọng cơ bản của doanh nghiệp.
Theo dõi xu hướng điều tra áp dụng các biện pháp PVTM của nước xuất khẩu. Với những thị trường thường xuyên sử dụng các biện pháp PVTM như Úc doanh nghiệp cần có những phương án chuẩn bị ngay từ giai đoạn tiếp cận thị trường để đảm bảo những thành quả sau khi tiếp cận thành công.
Theo dõi các biện pháp PVTM thên thế giới áp dụng với hàng hóa mà mình xuất khẩu. Việc một số thị trường áp dụng biện pháp PVTM với một loại hàng hóa cụ thể có thể dẫn đến việc các thành viên khác cũng sẽ xem xét điều tra áp dụng biện pháp PVTM đối với sản phẩm đó.
Tham gia ứng phó một vụ việc phòng vệ thương mại, đặc biệt là vụ việc điều tra chống bán phá giá và điều tra chống trợ cấp, doanh nghiệp cần đầu tư rất nhiều nguồn lực. Hầu hết các nhân lực quan trọng của doanh nghiệp (sản xuất, bán hàng, kế toán) đều sẽ phải dành thời gian và nguồn lực chuẩn bị tài liệu và tham gia ứng phó vụ việc trong một khoảng thời gian trải dài trong khoảng 01 năm. Cùng với đó, một nguồn chi phí đáng kể sẽ cần được chuẩn bị trong trường hợp thuê luật sư tư vấn đồng hành cùng giai đoạn kháng kiện. Do vậy, để việc tham gia ứng phó vụ việc hiệu quả và không làm ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có sự cân nhắc về quy mô và lợi ích của thị trường để đưa ra kế hoạch ứng phó phù hợp.
Doanh nghiệp cần cân nhắc một số vấn đề như sau khi quyết định mức tiêu tốn nguồn lực cho quá trình ứng phó vụ việc:
Tính toán các chi phí tiếp cận thị trường cũng như lợi ích kỳ vọng đạt được ở thị trường xuất khẩu.
Tính toán các chi phí, nguồn lực cần thiết để tham gia ứng phó vụ việc.
Dự toán mức thiệt hại khi biện pháp PVTM được áp dụng.
Với các tính toán cụ thể, doanh nghiệp có thể tham vấn Cục PVTM để có được những khuyến nghị tối ưu cho quá trình kháng kiện. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, việc doanh nghiệp không tham gia vụ việc điều tra hoặc tham gia không đầy đủ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến thuế suất toàn quốc (mức thuế áp dụng với những doanh nghiệp không được chọn mẫu). Do vậy, doanh nghiệp luôn cần tham vấn với Cục PVTM để có phương án phù hợp vì lợi ích chung của ngành.
Trong quá trình tham gia một vụ việc PVTM, doanh nghiệp cần lưu ý rằng không nên chỉ làm việc một mình. Sự phối hợp với các bên khác có liên quan là hết sức quan trọng. Các công tác ứng phó cũng như phối hợp với các bên, doanh nghiệp có thể theo dõi các khuyến nghị tại các giai đoạn điều tra cụ thể. Các bên liên quan mà doanh nghiệp cần phối hợp trong giai đoạn điều tra: Cục phòng vệ thương mại – Bộ Công Thương, đây là cơ quan đầu mối thông tin, tham vấn pháp lý, hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình tham gia vụ việc điều tra PVTM. Đối với vụ việc điều tra chống trợ cấp, Cục PVTM cũng là đầu mối tổng hợp bản trả lời bảng câu hỏi dành cho Chính phủ. Doanh nghiệp cần thường xuyên trao đổi và phối hợp, hợp tác với Cục PVTM để đảm bảo việc trả lời các bản câu hỏi hiệu quả, thống nhất. Với các tham vấn, biện luận gửi tới cơ quan điều tra, doanh nghiệp cũng có thể tham vấn và đề nghị Cục PVTM hỗ trợ chuyển các ý kiến này đến cơ quan điều tra dưới tư cách Chính phủ.
Hiệp hội và các doanh nghiệp cùng ngành: việc các doanh nghiệp cùng ngành phối hợp với nhau trong quá trình tham gia vụ việc điều tra PVTM sẽ tạo ra sức mạnh đoàn kết, chia sẻ chi phí cũng như kinh nghiệm trong quá trình ứng phó vụ việc.
Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng đã đẩy mạnh việc phối hợp giữa các Bộ, ngành, cơ quan Chính phủ ở trung ương và địa phương trong việc xử lý các vụ việc phòng vệ thương mại cũng như hướng dẫn và hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam xử lý các vụ việc phòng vệ thương mại hiệu quả, đáp ứng các quy tắc xuất xứ, tận dụng lợi ích trong các FTA giữa Việt Nam và Canada.
Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực của Chính phủ và Bộ Công Thương, việc ứng phó hiệu quả với các biện pháp phòng vệ thương mại của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu đòi hỏi sự tích cực, chủ động tham gia của cộng đồng doanh nghiệp.
Vì vậy, để giảm thiểu tác động tiêu cực của các biện pháp phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương khuyến nghị, các ngành sản xuất, xuất khẩu và doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược xuất khẩu theo hướng đa dạng hóa thị trường, tránh phát triển quá nóng vào một thị trường, tăng cường cạnh tranh bằng chất lượng và hạn chế việc cạnh tranh bằng giá. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nên xem việc phòng vệ thương mại là một phần trong chiến lược sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là xuất khẩu.
Không những thế, doanh nghiệp cần trang bị kiến thức cơ bản về pháp luật phòng vệ thương mại cũng chuẩn bị nguồn lực để đối phó với các nguy cơ kiện phòng vệ thương mại.
Úc là một thành viên CPTPP sớm xây dựng các văn bản hướng dẫn chi tiết việc điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM trước cả khi các biện pháp này được đưa vào cam kết trong khuôn khổ WTO. Trong đó, Úc duy trì và hoàn thiện 03 văn bản hướng dẫn về điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp và 02 văn bản hướng dẫn điều tra áp dụng biện pháp tự vệ. Cùng với đó, các khái niệm, hướng dẫn cụ thể về điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM cũng được xây dựng thành cẩm nang hướng dẫn công khai, giúp cho doanh nghiệp cũng như các bên liên liên quan có thể dễ dàng theo tiến trình điều tra.
Về quy trình điều tra, Úc đưa ra các quy định khung thời gian cơ bản và phù hợp với các cam kết tại WTO:
Vụ việc điều tra chống bán phá giá/chống trợ cấp
Để phục vụ cho hoạt động điều tra chống bán phá giá/chống trợ cấp, Úc đã xây dựng chi tiết và thống nhất về các nội dung liên quan đến thủ tục cũng như nội dung điều tra. Theo đó, trong cuộc điều tra của Úc, Cơ quan điều tra sẽ tuân thủ chặt chẽ các mốc thời gian liên quan đến Kết luận sơ bộ, công bố thông tin trọng yếu và kết luận cuối cùng.
Nội dung quy định pháp luật về điều tra chống bán phá giá chống trợ cấp có một số điểm đáng quan tâm như sau:
Quy định về nền kinh tế phi thị trường: Úc có quy định về việc sử dụng phương pháp tính toán giá trị thông thường đối với hàng hóa xuất xứ từ các nước có nền kinh tế phi thị trường. Với các phương pháp này, biên độ bán phá giá được tính toán rất cao, gây bất lợi cho hàng hóa nhập khẩu. Năm 2008, Việt Nam đã được Úc công nhận nền kinh tế thị trường và sẽ không chịu ảnh hưởng bởi quy định này của Úc. Tuy nhiên, Úc vẫn có thể xem xét áp dụng việc tính toán riêng trong trường hợp xác định ngành hàng liên quan có tình hình thị trường đặc biệt (particular market economy) hoặc nền kinh tế chuyển đổi (economy in transition).
Điều tra chống lẩn tránh biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp: Úc đã sớm có quy định về điều tra chống lẩn tránh biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, gồm (1) Hàng lắp ráp hàng xuất khẩu vào Úc; (2) Hàng lắp ráp ở nước thứ ba; (3) Xuất khẩu hàng hóa qua một hoặc nhiều nước thứ ba; (4) thỏa thuận giữa các nhà xuất khẩu; (5) Lẩn tránh tác động của các biện pháp và (6) Sửa đổi hàng hóa.
Điều tra lại: Căn cứ trên quy định về việc rà soát lại các quy định về biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp, các vụ việc điều tra có thể tiến hành điều tra lại và quyết định của vụ việc điều tra lại sẽ thay thế cho quyết định ban đầu.
Cho đến nay Úc đã tiến hành điều tra 37 vụ việc điều tra chống bán phá giá và 04 vụ việc điều tra chống trợ cấp. Thực tiễn cho thấy Úc rất thận trọng trong việc đưa ra quyết định áp dụng các biện pháp PVTM với 17 biện pháp chống bán phá giá và 02 biện pháp chống trợ cấp.
Vụ việc điều tra tự vệ
Pháp luật Úc không đưa ra một văn bản cụ thể về việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ. Thủ tục điều tra được ban hành dưới dạng một thông báo kèm theo Đạo luật về Ủy ban năng suất (Productivity act). Theo đó, trong vụ việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ cần đảm bảo:
- Về thủ tục điều tra: (1) Đảm bảo tổ chức tham vấn và các hình thức phù hợp để các bên liên quan cung cấp bằng chứng và lập luận; (2) Công khai các kết quả điều tra đảm bảo đúng luật và thực tiễn; và (3) Bảo mật các thông tin mật do các bên liên quan cung cấp.
- Về điều kiện áp dụng: (1) áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu vào Úc có lượng gia tăng (tương đối và tuyệt đối) gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước; (2) loại trừ áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển với điều kiện về tỷ lệ nhập khẩu theo quy định.
- Biện pháp tự vệ được áp dụng: (1) Hạn ngạch; (2) Hạn ngạch thuế quan và (Thuế bổ sung).
- Trên thực tiễn, mặc dù là một Thành viên tích cực sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, Úc lại không ưu tiên áp dụng biện pháp tự vệ. Cho đến nay, Úc chỉ mới điều tra áp dụng 04 vụ việc tự vệ. Vụ việc gần nhất mà Úc tiến hành điều tra được thực hiện từ năm 2013.
Thẩm quyền điều tra áp dụng biện pháp PVTM Úc được giao cho hai cơ quan:
Ủy ban chống bán phá giá (Anti-dumping Comission): Đây là đơn vị trực thuộc Bộ Công nghiệp – Khoa học – Năng lượng và Nguồn lực của Úc. Ủy ban được giao nhiệm vụ điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và/hoặc chống trợ cấp. Ủy ban chống bán phá giá chịu trách nhiệm tiến hành điều tra và đưa ra khuyến nghị để Bộ ban hành quyết định áp dụng biện pháp. Các quyết định của Bộ và Ủy ban về biện pháp chống bán phá giá sẽ được rà soát bởi Ban hội thẩm rà soát biện pháp chống bán phá giá nếu có yêu cầu của các bên liên quan trong vòng 30 ngày kể từ ngày ban hành quyết định có liên quan.






