EU sử dụng dữ liệu VN Comtrade trong vụ việc chuyển tải năm 2011

Các phân tích về vụ chuyển tải của EU năm 2011 liên quan đến sợi thủy tinh (một số loại dạng vải lưới hở) được trích dẫn bên dưới đây. Có hai cuộc điều tra phòng vệ thương mại liên quan đến sản phẩm sợi thủy tinh đã diễn ra vào năm 2011, trong đó bao gồm cuộc điều tra chống bán phá giá được thực hiện đối với Trung Quốc và cuộc điều tra chống lẩn tránh được thực hiện đối với Ma-lai-xi-a. Trong quá trình điều tra, Uỷ ban Châu Âu ghi nhận “Lượng nhập khẩu sản phẩm liên quan từ Trung Quốc vào Liên minh Châu Âu (EU) đã giảm mạnh sau khi các biện pháp tạm thời được áp dụng vào tháng 2 năm 2011 và đồng thời áp dụng thêm các biện pháp dứt khoát”. Trong thời gian đó, Ma-lai-xi-a có sản lượng xuất khẩu sản phẩm sợi thủy tinh đang được điều tra sang EU đã tăng đáng kể vào năm 2011.

Uỷ ban Châu Âu đặc biệt nhấn mạnh rằng vào giai đoạn trước năm 2011, Ma-lai-xi-a đã không có hoạt động sản xuất nào liên quan đến sản phẩm bị điều tra và các doanh nghiệp chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm này chỉ mới được thành lập vào các năm 2010 và 2011. Những bằng chứng này được coi là dấu hiệu cho thấy hoạt động sản xuất và xuất khẩu sản phẩm bị điều tra tại Ma-lai-xi-a có khả năng cao đã áp dụng hành vi lẩn tránh. Tuy nhiên nếu chỉ dựa trên những dữ kiện này thì không thể khẳng định chắc chắn hành vi lẩn tránh của các doanh nghiệp Ma-lai-xi-a. Ngoài ra cũng không thể loại trừ khả năng các doanh nghiệp Trung Quốc đã tìm cách chuyển hoạt động của mình sang Ma-lai-xi-a do dự đoán Trung Quốc sẽ còn bị áp đặt thêm thuế và thực hiện các lập trường hạn chế hơn.

Để kiểm định các giả thuyết về hành vi lẩn tránh của Ma-lai-xi-a, cơ sở dữ liệu của UN Comtrade đã được sử dụng để phân tích các mô hình về giá trị thương mại trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2013.33 Có thể thấy dữ liệu xuất khẩu hàng tháng từ Ma-lai-xi-a sang EU trước năm 2010 không hề tồn tại.34 Trên biểu đồ 4, lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào EU tăng đáng kể vào đầu năm 2010; sau đó vào đầu tháng 5, một cuộc điều tra chống bán phá giá đã được áp dụng (đường nét đứt thẳng đứng đầu tiên). Sau khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đầu tiên vào tháng 2 năm 2011 (đường nét đứt thẳng đứng thứ hai), lượng hàng hóa xuất khẩu từ Trung Quốc giảm mạnh và sau đó thì lượng hàng xuất khẩu từ Ma-lai-xi-a có dấu hiệu tăng mạnh. Khi cuộc điều tra chống lẩn tránh đối với Ma-lai-xi-a được khởi xướng vào tháng 11 năm 2011 (đường nét đứt thẳng đứng thứ ba), lượng hàng xuất khẩu từ cả Trung Quốc và Ma-lai-xi-a đều giảm đồng thời (sự sụt giảm này xảy ra trước khi các biện pháp chống lẩn tránh chính thức được áp dụng vào tháng 7 năm 2012). Các phân tích về dữ liệu cho thấy các nhận định từ Uỷ ban Châu Âu về hành vi lẩn tránh của Ma-lai-xi-a là phù hợp về mô hình thương mại, nhưng cũng không loại trừ giả thuyết di dời doanh nghiệp từ Trung Quốc sang Ma-lai-xi-a.

33 Các phân tích sử dụng dữ liệu về sản lượng đã được đưa vào Phụ lục 3 (bao gồm từ Hình 26 đến Hình 28). Nó không mang lại thay đổi đáng kể đối với các suy luận đã được nêu ra.

34 Dữ liệu hàng năm về trị giá nhập khẩu mặt hàng sợi thủy tinh từ Ma-lai-xi-a vô cùng khiêm tốn, chỉ 44 đô la Mỹ vào năm 2008 và đạt 5.645 đô la Mỹ vào năm 2009.

Để nghiên cứu kĩ hơn giả thuyết này, Hình 5 trình bày giá trị xuất khẩu hàng tháng từ Trung Quốc sang Ma-lai-xi-a trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2013. Dữ liệu cho thấy có sự gia tăng nhỏ trong xuất khẩu sau khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và sau đó là sự sụt giảm khi cuộc điều tra chống lẩn tránh được tiến hành. Những sự thay đổi về xuất khẩu giữa 2 quốc gia thể hiện phản ứng đối với cuộc điều tra, tuy nhiên, thời điểm xuất khẩu này từ Trung Quốc sang Ma-lai-xi-a (vào cuối năm 2011) không khớp với thời điểm nhập khẩu của EU từ Ma-lai-xi-a (bắt đầu vào nửa đầu năm). Bên cạnh đó, giá trị xuất khẩu từ Trung Quốc sang Ma-lai-xi-a đạt khoảng 2 triệu đô la Mỹ, nhỏ hơn nhiều so với giá trị nhập khẩu của EU từ Ma-lai-xi-a (khoảng 5 triệu đô la Mỹ). Do đó, bằng chứng này không đủ sức thuyết phục.

Để hiểu rõ hơn điều gì tạo ra những sự thay đổi nói trên, Hình 6 trình bày giá trị nhập khẩu vào Ma-lai-xi-a từ Trung Quốc, tương tự với giá trị xuất khẩu từ Trung Quốc sang Ma-lai-xi-a như ở Hình 7 nhưng ở chiều ngược lại. Ở biểu đồ này, dữ liệu về thời gian (và một số dữ liệu về giá trị xuất khẩu thương mại) mà Ma-lai-xi-a nhập khẩu sợi thủy tinh từ Trung Quốc cho thấy sự tương đồng rõ ràng hơn với các dữ liệu xuất khẩu từ Ma-lai-xi-a sang EU. Bằng chứng này ngụ ý rằng việc áp đặt thuế đối với Trung Quốc có thể đã dẫn đến việc điều phối lại xuất khẩu của Trung Quốc vào Ma-lai-xi-a. Các phát hiện này cũng thể hiện sự không nhất quán trong việc báo cáo giữa những quốc gia ở trong cùng một luồng thương mại: Nói cách khác, các số liệu báo cáo của Trung Quốc về việc Trung Quốc xuất khẩu sang Ma-lai-xi-a dường như không khớp với các số liệu của Ma-lai-xi-a báo cáo về việc họ nhập khẩu từ Trung Quốc cho cùng một mặt hàng.

Các phát hiện được tìm thấy làm tăng thêm cơ sở cho giả thuyết của Uỷ ban Châu Âu. Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là kết luận do có nhiều yếu tố khác để thể giải thích cho các xu hướng xuất khẩu của Trung Quốc và Ma-lai-xi-a. Do đó, nhằm loại trừ các yếu tố khác có thể ảnh hưởng, phạm vi nghiên cứu đã được mở rộng về mặt thời gian từ năm 2000 đến năm 2020 (mặc dù điều này chỉ có thể thực hiện đối với giá trị thương mại hàng năm). Dựa trên hình 7, khi xem xét ở bối cảnh rộng hơn, đỉnh điểm kim ngạch xuất khẩu từ Trung Quốc sang Ma-lai-xi-a diễn ra trùng với khoảng thời gian khi các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng đối với Trung Quốc. Trước đó điều này chưa từng xảy ra và kim ngạch xuất khẩu sản phẩm liên quan từ Trung Quốc sang Ma-lai-xi-a tương đối khiêm tốn, khi cuộc điều tra chống lẩn tránh được tiến hành và các biện pháp được áp dụng đối với Ma-lai-xi-a, xuất khẩu sợi thủy tinh từ Trung Quốc đã giảm mạnh trở lại. Điều này cho thấy rằng xuất khẩu từ Trung Quốc sang Ma-lai-xi-a trong khoảng thời gian này không biến động ở mức trung bình thường thấy giữa hai quốc gia: hay nói cách khác có một sự gia tăng cụ thể về xuất khẩu sang Ma-lai-xi-a liên quan đến các khoản thuế áp dụng đối với Trung Quốc.

Lưu ý: 1) Khởi động cuộc điều tra AD đối với Trung Quốc (tháng 5 năm 2010), 2) Áp dụng các biện pháp AD đối với Trung Quốc (tháng 2 năm 2011), 3) Khởi động cuộc điều tra AC đối với Ma-lai-xi-a (tháng 11 năm 2011), 4) Áp dụng các biện pháp AC đối với Ma-lai-xi-a (tháng 7 năm 2012).

Nguồn: Phân tích của Frontier Economics về dữ liệu UN Comtrade.

Tuy nhiên, vẫn không thể loại trừ khả năng việc Trung Quốc xuất khẩu sang Ma-lai-xi-a tăng cao chỉ đơn giản là do họ đã chuyển hướng xuất khẩu sang Ma-lai-xi-a thay vì EU, do thị trường Ma-lai-xi-a và một số thị trường khác có lợi nhuận cao hơn sau khi thuế của EU được áp dụng. Ngoài ra, việc xuất khẩu sang Ma-lai-xi-a là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước của Ma-lai-xi-a, vì mức tăng về xuất khẩu từ Ma-lai-xi-a sang EU lớn hơn đáng kể so với mức tăng nhập khẩu vào Ma-lai-xi-a từ Trung Quốc. Mức tăng xuất khẩu từ Ma-lai-xi-a sang EU có thể là kết quả của việc các nhà sản xuất Ma-lai-xi-a khai thác các cơ hội tại EU sau khi EU áp thuế đối với Trung Quốc, điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn cung trong nước của Ma-lai-xi-a mà các nhà sản xuất Trung Quốc hiện đang đáp ứng.

Biểu đồ 5 báo cáo lượng nhập khẩu của EU từ Ma-lai-xi-a và lượng xuất khẩu của Ma-lai-xi-a ra thế giới. Có thể thấy rằng ngoài hoạt động thương mại với EU, Ma-lai-xi-a xuất khẩu rất ít sản phẩm này và xuất khẩu sang EU phần lớn diễn ra trong giai đoạn sau khi áp thuế đối với Trung Quốc và trước khi thuế lẩn tránh đối với Ma-lai-xi-a được áp dụng. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là giá trị đỉnh điểm trong xuất khẩu từ Trung Quốc sang Ma-lai-xi-a (khoảng 6,5 triệu đô la Mỹ) nhỏ hơn nhiều so với đỉnh điểm nhập khẩu của EU từ Ma-lai-xi-a (khoảng 25 triệu đô la Mỹ). Do đó, không có khả năng tất cả hàng nhập khẩu từ Ma-lai-xi-a đều là nỗ lực lẩn tránh từ Trung Quốc.

Lưu ý: 1) Khi động cuc điu tra AD đối vi Trung Quc (tháng 5 năm 2010), 2) Áp dng các bin pháp AD đối vi Trung Quc (tháng 2 năm 2011), 3) Khi động cuc điu tra AC đối vi Ma-lai-xi-a (tháng 11 năm 2011), 4) Áp dng các bin pháp AC đối vi Ma-lai-xi-a (tháng 7 năm 2012).

Nguồn: Phân tích của Frontier Economics về dữ liệu UN Comtrade.

Để hoàn thành phân tích, cách xuất khẩu của Trung Quốc sang Đông Nam Á được đưa vào nghiên cứu để hiểu nó diễn ra như thế nào, điều này có thể làm sáng tỏ về vai trò của thuế chống bán phá giá đã được áp dụng liệu có giúp Trung Quốc lẩn tránh. Hình 6 báo cáo các số liệu xuất khẩu từ Trung Quốc sang bảy quốc gia ASEAN từ năm 2010 đến năm 2013. Nhìn chung, tình hình xuất khẩu vẫn ổn định, xuất khẩu sang Thái Lan bắt đầu gia tăng sau khi thuế chống bán phá giá đối với Trung Quốc được áp dụng, sau đó kim ngạch xuất khẩu lại tiếp tục tăng đáng kể sau khi khởi động cuộc điều tra chống lẩn tránh đối với Ma-lai-xi-a. Nhập khẩu vào EU từ Thái Lan cũng gia tăng (Hình 10) trước khi Thái Lan phải chịu cuộc điều tra chống lẩn tránh (diễn ra vào tháng 5 năm 2012) rồi đến khi thuế chống bán phá giá được áp dụng (tháng 1 năm 2013). 35

u ý: Không có d liu cho Lào, Brunei và Đông Timor.

Nguồn: Phân tích dữ liệu UN Comtrade của Frontier Economics.

Footer:

35 Dữ liệu được lấy đến năm 2014 nhằm quan sát các tác động của các biện pháp chống lẩn tránh áp dụng đối với Thái Lan.

 

Phân tích được trình bày ở đây giúp cơ sở bằng chứng được gia tăng đáng kể so với cơ sở ban đầu do Uỷ ban Châu Âu cung cấp. Đặc biệt, một số các công cụ so sánh đã được sử dụng trong phân tích này, bao gồm các mô hình thương mại giữa Trung Quốc và Ma-lai-xi-a, và giữa Trung Quốc và các quốc gia khác trong khu vực. Phân tích dưới đây cho thấy Đông Nam Á thường không phải là thị trường quan trọng đối với sợi thủy tinh xuất khẩu từ Trung Quốc, và EU cũng không phải là thị trường quan trọng để xuất khẩu sợi thủy tinh đối với các quốc gia Đông Nam Á được nêu. Điều này làm tăng mối liên kết giữa việc tăng đột biến trong xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á từ Trung Quốc và các đợt tăng đột biến về xuất khẩu từ khu vực Đông Nam Á sang EU sau khi áp thuế,  củng cố thêm quan điểm cho rằng ít nhất một phần của đợt tăng đột biến đó là do các nỗ lực nhằm lẩn tránh. Tuy nhiên, lập luận này vẫn chưa phải là chắc chắn, vì các giá trị và thời điểm xuất nhập khẩu của luồng thương mại không phải lúc nào cũng nhất quán.

Do đó, bằng chứng dựa trên dữ liệu thương mại không hoàn toàn mang tính quyết định: về mặt khái niệm, có thể các nhà xuất khẩu Trung Quốc thấy rằng xuất khẩu sang Ma-lai-xi-a và Thái Lan có lợi nhuận cao hơn và khai thác được khoảng cách về nhu cầu, còn các nhà xuất khẩu Ma-lai-xi-a và Thái Lan đã nắm bắt được các cơ hội thu về lợi nhuận do chênh lệch giá giữa giá của EU và giá thế giới tạo ra 36 , dựa vào các phân tích thương mại được quan sát ở trên, nhận định này còn nhiều nghi vấn. Có thể thấy rõ Ma-lai-xi-a (và các doanh nghiệp Thái Lan) chủ yếu tập trung vào thị trường trong nước và không quan tâm đến việc xuất khẩu sang EU hoặc các thị trường nước ngoài, họ chỉ quyết định xuất khẩu sang EU sau khi lệnh thuế dược áp dụng đối với Trung Quốc. Sự đáng ngờ trong hành vi xuất khẩu của các quốc gia có thể được giải thích dựa vào việc các công ty thường không thể chuyển đổi liền mạch sang xuất khẩu: do có chi phí cố định khi thâm nhập thị trường nước ngoài mới, đặc biệt là chi phí thu hút khách hàng và ký kết hợp đồng mua hàng với nhà phân phối hoặc người dùng cuối.

Các phân tích dữ liệu thương mại được trình bày dưới hạng một bảng điểm hỗn hợp. Sự khác biệt giữa luồng thương mại Trung Quốc và Ma-lai-xi-a, và luồng thương mại Ma-lai-xi-a và EU đặt ra câu hỏi liệu có ít nhất một phần của các luồng thương mại này phản ánh hiệu ứng thay thế hay chuyển hướng thực sự hay không. Phân tích các mô hình thương mại khu vực đặt ra câu hỏi về khả năng xuất khẩu của các doanh nghiệp Ma-lai-xi-a, liệu sự gia tăng đột biến một lần trong thương mại giữa Ma-lai-xi-a và EU có phù hợp khi so sánh và đặt trong bối cảnh và tình hình xuất khẩu thường diễn ra của Ma-lai-xi-a hay không.

Mặc dù phân tích dữ liệu thương mại không thể đưa ra được kết luận rõ ràng, nhưng nó vẫn có giá trị trong việc phân tích. Việc phân tích các mô hình xuất khẩu từ Trung Quốc sang Ma-lai-xi-a cung cấp một số bối cảnh bổ sung để hiểu hơn về mô hình xuất khẩu từ Ma-lai-xi-a sang EU và tăng cường giám sát việc phát hiện hành vi lẩn tránh chỉ dựa trên phân tích thương mại song phương giữa EU, Trung Quốc và Ma-lai-xi-a. Ngoài ra, việc phân tích các mô hình thương mại khu vực đặt ra câu hỏi cụ thể: liệu các nhà xuất khẩu Ma-lai-xi-a có khả năng tăng sản lượng và chuyển đổi xuất khẩu cho mục đích xuất khẩu sang EU, và việc này có thể diễn ra một cách liền mạch giữa thị trường trong nước và nước ngoài hay không? Bên cạnh đó, các phân tích cũng nhấn mạnh về sự xuất hiện của một trung tâm lẩn tránh Đông Nam Á trong bối cảnh thuế chống bán phá giá của EU được áp dụng.

Footer:

36 Nếu chúng ta cho rằng việc áp thuế tại EU đã làm tăng giá sản phẩm tại EU lên cao hơn giá tại các nơi khác trên thế giới và các nhà sản xuất tại Ma-lai-xi-a thường phải đối mặt với giá thế giới, tạo ra động lực để Ma-lai-xi-a bán cho EU với mức giá cao hơn giá thế giới nhưng thấp hơn giá đã đánh thuế tại EU. Trong tình hình cạnh tranh không hoàn hảo tại Ma-lai-xi-a, việc giảm lượng cung trong nước (do phải định tuyến lại sản xuất) cũng sẽ làm tăng giá tại nước này (chi phí cơ hội đối với các nhà sản xuất Ma-lai-xi-a khi bán tại nước này hiện là giá EU cao hơn). Nhu cầu trong nước tại Ma-lai-xi-a sau đó có thể được đáp ứng bởi Trung Quốc.

Việc sử dụng dữ liệu của UN Comtrade như một phần của các phân tích tinh vi về xuất nhập khẩu trước khi và sau khi, có một số lưu ý sau (như đã nêu trong phần 4.2):

- Do độ trễ về thời gian đối với các quốc gia gửi dữ liệu cho UN Comtrade, mức dữ liệu thương mại chi tiết và bắt buộc (ví dụ như dữ liệu hàng tháng) cho các trường hợp cụ thể có thể không có sẵn kịp thời;

- Các biện pháp khắc phục trong các trường hợp chống lẩn tránh khác đã được áp dụng ở mức 8 và 10 chữ số. Đối với những trường hợp này, UN Comtrade có thể không cung cấp mức phân tách bắt buộc để đánh giá các tác động tiềm ẩn.

Như đã quan sát ở trên, dữ liệu thương mại rất hữu ích vì nó cung cấp lý do chính đáng cụ thể cũng như các yếu tố theo ngữ cảnh để tiếp tục điều tra các mô hình sản xuất và năng lực của các doanh nghiệp Ma-lai-xi-a. Tình cờ, đây cũng là trọng tâm chính của chuyến thăm thực địa do các quan chức Ủy ban Châu Âu thực hiện tại Ma-lai-xi-a.

Chuyến thăm thực địa đã tìm thấy bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp Ma-lai-xi-a đã thao túng các tài liệu thương mại, tài chính và hơn nữa, họ không có khả năng sản xuất số lượng nhập khẩu vào EU được chỉ định và khai báo là có nguồn gốc từ Ma-lai-xi-a. Đây là một phát hiện mang tính quyết định đối với giả thuyết trước đó của Uỷ ban Châu Âu. Nhìn từ góc độ phân tích dữ liệu thương mại được trình bày ở trên trong báo cáo của chuyến thăm thực địa, các phát hiện của Uỷ ban Châu Âu đưa ra phản hồi tiêu cực đối với khả năng các nhà sản xuất Ma-lai-xi-a tăng nhanh sản lượng và chuyển đổi liền mạch từ trọng tâm sản xuất trong nước sang trọng tâm xuất khẩu nước ngoài. Điều này cho thấy rằng, việc thu thập dữ liệu thương mại bổ sung (và thông tin về tổ chức công nghiệp) có thể cung cấp thông tin chi tiết hữu ích và phát hiện các trường hợp lẩn tránh tiềm ẩn. Tuy nhiên, các chuyến thăm thực địa là rất cần thiết để cung cấp bằng chứng quyết định và xác nhận xem các nhận định về hành vi lẩn tránh có chính xác hay không.

Ngoài ra, có những bằng chứng khác cho thấy việc lẩn tránh thương mại đã nổi lên như một hoạt động kinh doanh đúng nghĩa, ủng hộ thêm cho giả thuyết về hành vi lẩn tránh. Ví dụ như Liu và Shi (2019) đã từng báo cáo về việc một số doanh nghiệp quảng cáo “dịch vụ lẩn tránh” liên quan đến Trung Quốc và Ma-lai-xi-a, điều này lại củng cố thêm nhận định về việc có hành vi lẩn tránh và phần nào giải thích những thay đổi đột ngột trong mô hình thương mại giữa PRC và Ma-lai-xi-a (đã quan sát được trong ví dụ này)37 .

Footer:

37 Liu and Shi (2019), op. cit.

 

Tin tức khác