Thực tiễn điều tra vấn đề tình hình thị trường đặc biệt của Úc
Tính đến hết năm 2018, Úc đã điều tra 379 vụ việc phòng vệ thương mại bao gồm: 344 vụ việc chống bán phá giá, 4 vụ việc tự vệ và 379 vụ việc chống trợ cấp. Úc cũng được coi là thành viên tích cực điều tra áp dụng các vụ việc phòng vệ thương mại và cũng là nước thường xuyên thay đổi các quy định pháp lý đề phù hợp với thực tiễn mới cũng các vụ việc.
Cũng tương tự như EU, Hoa Kỳ, việc Úc tăng cường áp dụng PMS trong thời gian gần đây đều liên quan đến vấn đề kinh tế thị trường của Trung Quốc. Tuy nhiên, sớm hơn EU, Hoa Kỳ, năm 2005, trên cơ sở hiệp định thương mại tự do Trung Quốc-Úc, Úc đã công nhận kinh tế thị trường của Trung Quốc và không áp dụng đoạn 15 trong cam kết ra nhập WTO của Trung Quốc về sử dụng giá trị thay thế[1]. Do đó, trong các vụ việc điều tra chống bán phá giá, Úc khó có thể áp dụng điều khoản về nền kinh tế phi thị trường với sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc.
Để giải quyết vấn đề này, Úc đã áp dụng phương pháp thay thế, đó là xác định tồn tại PMS trong các vụ việc điều tra chống bán phá giá. Do đó, hầu hết các vụ việc có cáo buộc về PMS (ngoài Việt Nam) đều có sản phẩm xuất khẩu từ Trung Quốc.
Như đã trình bày ở trên, đạo luật hải quan 1901 yêu cầu giá trị thông thường được tính toán trên cơ sở giao dịch bán hàng nội địa[2]. Tuy nhiên, cơ quan điều tra cũng được trao thẩm quyền cho phép không áp dụng phương pháp trên trong trường hợp thị trường của nước xuất khẩu không cho xác định chính xác giá trị thông thường[3]. Trong tình huống này, cơ quan điều tra được phép sử dụng phương pháp tự xây dựng giá trị thông thường căn cứ trên các thông tin đáng tin cậy.
Trong quá trình xác định tồn tại của PMS, cơ quan điều tra Úc sẽ tìm kiếm các thông tin để đánh giá liệu sự tác động của chính phủ trên thị trường nước xuất khẩu có dẫn đến việc bóp méo sự cạnh tranh trên thị trường đó hay không[4]. Qua tìm hiểu một số vụ việc với Trung Quốc, các thông tin Úc thường xuyên yêu cầu cung cấp bao gồm: các kế hoạch vĩ mô phát triển ngành (có sản phẩm bị điều tra), hỗ trợ tài chính cho ngành sản xuất nội địa và các hỗ trợ về thuế, hạn ngạch. Trong vụ việc điều tra và áp thuế chống bán phá giá thép kết cấu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia và Đài Loan (Trung Quốc), Úc đã sử dụng mốc chuẩn nước ngoài trên cơ sở xác định PMS đã làm giá nguyên liệu thép cán nóng không phản ánh đúng giá trị sản phẩm.
Căn cứ để Úc xác định tồn tại PMS đối với Trung Quốc đó là các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phù ví dụ như chính sách với ngành thép, Sách trắng ngành thép v...v. Cơ quan điều tra cho rằng, các chính sách do chính phủ Trung Quốc áp dụng đã làm tăng nguồn cung các yếu tố đầu vào của nguyên liệu sản xuất dẫn đến tình trạng kìm giá nguyên liệu. Điều này khiến giá trị thông thường thấp và không phản ánh đúng thực tế thị trường. Như vậy, có thể thấy, các chính sách của chính phủ có vai trò quan trọng trong quá trình điều tra PMS. Do đó, trong các vụ việc Úc đã tiến hành có nội dung về PMS, bằng chứng về sự can thiệp của chính phủ và tác động tới giá nội địa là rất quan trọng, mang tính chất quyết định. Trong vụ việc điều tra chống bán phá giá sản phẩm vành bánh xe nhôm (năm 2005), Úc cho rằng chính sách thuế của chính phủ Trung Quốc áp dụng mức thuế xuất khẩu với nhôm cao hơn với sản phẩm vành nhôm đã làm xuất hiện PMS. Theo giải thích của cơ quan điều tra, việc áp thuế xuất khẩu với nhôm thấp hơn vành nhôm đã khuyến khích các nhà sản xuất nhôm nội địa làm giá nhôm trong nước giảm. Giá nhôm thấp dẫn đến chi phí sản xuất vành nhôm thấp khiến giá trị thông thường của vành nhôm không phản ánh đúng thị trường.
Trên cơ sở xác định tồn tại PMS trong các vụ việc, bên cạnh việc không sử dụng giá trị thông thường theo các giao dịch nội địa nước xuất khẩu, Úc cũng sẽ loại bỏ các chi phí sản xuất thực tế của các nhà sản xuất tại nước xuất khẩu trong quá trình tự tính toán giá trị thông thường. Để tính toán giá trị thông thường, Úc sẽ sử dụng giá trị thay thế từ nước thứ ba.
Trong thực tiễn điều tra, bên cạnh việc thường xuyên áp dụng với các nước có nền kinh tế phi thị trường trước đây, Úc cũng mở rộng việc kết luận tồn tại PMS trong từng ngành tại các nước trước đây không bị coi là nền kinh tế phi trường. Gần đây nhất, vụ việc Úc điều tra chống bán phá giá với sản phẩm giấy photo A4 nhập khẩu từ Trung Quốc, Indonesia và Thái Lan, cơ quan điều tra Úc xác định PMS tồn tại trong ngành sản xuất giấy tại Trung Quốc và Indonesia. Indonesia là thành viên không bị cam kết ràng buộc về điều khoản kinh tế thị trường và giá trị thay thế khi ra nhập WTO. Tuy nhiên, trong vụ việc này, cơ quan điều tra Úc cho rằng chi phí bột giấy cung cấp bởi các nhà xuất khẩu Indonesia không phản ánh giá theo thị trường. Điều này xuất phát từ việc Úc đánh giá hàng loạt chính sách của chính phủ và các chương trình phát triển ngành bột giấy và giấy đang hỗ trợ ngành bột giấy của Indonesia. Úc cho rằng việc cấm xuất khẩu gỗ - nguyên liệu sản xuất bột giấy đã khiến giá nguyên liệu (bột giấy) thấp hơn mức thị trường. Để đưa ra nhận định này, cơ quan điều tra Úc đã so sánh giá gỗ và bột giấy tại một số nước ASEAN và thấy rằng, giá tại Indonesia thấp hơn hẳn giá tại thị trường ASEAN. Trên cơ sở đó, Úc đã sử dụng giá trị thay thế tại Brazil để tính toán giá trị thông thường của Indonesia và đẩy mức biên độ bán phá giá lên cao.
Ngược lại với Indonesia, trong vụ việc này, Trung Quốc lại không bị Úc xác định là tồn tại PMS với nguyên nhân chính đó là giá bột giấy tại Trung Quốc cao hơn nhiều giá tham chiếu mà cơ quan điều tra Úc sử dụng. Như vậy, có thể thấy, trong thực tiễn điều tra của Úc, yếu tố đầu tiên và có thể là quan trọng nhất là các mốc chuẩn tham chiếu khi cơ quan điều tra nước này sử dụng để đánh giá các chi phí sản xuất của sản phẩm bị điều tra tại nước xuất khẩu. Từ đó, cơ quan điều tra mới mở rộng việc xem xét nguyên nhân khiến giá thấp hơn giá tham chiếu và từ đó đưa ra nhận định về PMS.
[1]Memorandum of Understanding between the Department of Foreign Affairs and the Trade of Australia and the Ministry of Commerce of the People’s Republic of China on the Recognition of China’s Full Market Economy Status and the Commencement of Negotiation of a Free Trade Agreement between Australia and the People’s Republic of China (Dep’t of For. Affairs & Trade, Apr. 18, 2005), https://dfat.gov.au/trade/agreements/chafta/Documents/mou_aust-china_fta.pdf
[2] Luật hải quan 1901, mục 269 TAC (1)
[3] Luật hải quan 1901, mục 269TAC(2)(a)(ii)
[4] Anti-Dumping Commission, Dumping and Subsidy Manual 35 (Nov. 2015), http://www.adcommission.gov.au/accessadsystem/Documents/Dumping%20and%20Subsidy%20Manual% 20-%20April%202017.pdf.






