1. Thông tin chung về vụ việc điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng Dây và cáp thép xuất khẩu từ các nước
1.1. Giới thiệu về mặt hàng Dây và cáp thép
Mô tả mặt hàng
Các sản phẩm Dây và cáp thép, tên tiếng Anh là Steel ropes and cables được được làm từ những sợi thép được xoắn hoặc bện lại với nhau tạo nên kết cấu chắc chắn và bền chặt.
Dây thép thường được làm bằng dây sáng không có lớp phủ, nhưng chúng có thể được mạ kẽm để bảo vệ chống gỉ, chống ẩm và hơi nước. Số lượng và kích thước của dây trong dây thép quyết định tính linh hoạt, khả năng xử lý và khả năng chống ăn mòn và mài mòn của dây.
Cáp thép được tạo thành từ ba phần chính: dây, tao và lõi.
- Các dây tạo nên tao dây và tạo độ bền cho cáp.
- Các tao dây xếp thành hình xoắn ốc quanh lõi cáp.
- Lõi cáp tạo nền tảng cho các tao dây. Lõi cung cấp sự ổn định và hỗ trợ, trong khi các sợi giữ các dây riêng lẻ lại với nhau. Phần lõi cáp trong nhiều trường hợp có thể là một dây cáp độc lập. Thông thường, lõi này cung cấp từ 10 – 50% độ bền của dây cáp thép.
Có bốn loại thiết kế tao cơ bản được sử dụng trong dây cáp thép: tiêu chuẩn, seal, filler và warrington.
Dây và cáp thép được sử dụng trong nhiều ứng dụng khác nhau, bao gồm:
- Dùng trong xây dựng: Được sử dụng trong cầu treo dân sinh, lan can, cáp an ninh, dây sàn và bảo trì nhà cửa; neo giằng vật dụng tại công trình xây dựng,…
- Dùng trong nâng hạ: Được sử dụng trong thang máy, cáp treo, thang máy trượt tuyết, đường sắt và các thang máy trên không khác.
- Ziplines: Được làm bằng dây cáp thép không gỉ đủ chắc chắn để hỗ trợ trọng lượng của mọi người và chịu được điều kiện thời tiết.
- Dùng trong các lĩnh vực khác: ngành giao thông (rào chắn đường lộ); giàn căng các loại lưới nông nghiệp,…
Sản phẩm được xem xét lại là dây thừng và cáp thép bao gồm cả dây cuộn có khóa, không bao gồm dây thừng và cáp thuộc loại thép không gỉ, có kích thước mặt cắt ngang tối đa trên 3 mm.
Các sản phẩm Dây và cáp thép có mã HS:
7312 10 81, 7312 10 83, 7312 10 85, 7312 10 89 và 7312 10 98
(mã TARIC 7312 10 81 12, 7312 10 81 13, 7312 10 81 19, 7312 10 83 12, 7312 10 83 13, 7312 10 83 19, 7312 10 85 12, 7312 10 85 13, 7312 10 85 19, 7312 10 89 12, 7312 10 89 13, 7312 10 89 19, 7312 10 98 12, 7312 10 98 13 và 7312 10 98 19).
Đặc điểm của mặt hàng
Những ứng dụng rộng rãi của cáp thép đem lại xuất phát từ đặc tính ưu việt của mặt hàng này. Đầu tiên, cáp cho sức chịu lực cao, chịu được trọng tải lớn. So với những vật liệu khác khi có cùng kích thước và đường kính dây như nhau, cáp thép cho độ chịu lực cao gấp nhiều lần. Đặc biệt, dù ứng dụng trong môi trường nào thì đặc tính này vẫn không bị ảnh hưởng gì.
Ngoài ra, nhờ vào cấu tạo đặc biệt, các loại cáp thép hầu như đều rất ít hoặc không chịu tác động từ yếu tố môi trường ngoài như nhiệt độ, độ ẩm,… Như vậy, đảm bảo được tính bền bỉ theo thời gian, hạn chế tối đa những sự cố hay sai sót không mong muốn trong quá trình ứng dụng. Vì vậy, dây cáp thép là một trong những vật liệu cực kỳ quan trọng được sử dụng trong ngành xây dựng. Không chỉ thế, cáp thép thậm chí cũng được sử dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, đóng tàu hay trang trí nội thất.
Dựa vào cấu tạo cáp thép, có thể phân biệt chúng dựa trên các yếu tố: Số tao dây, đặc điểm tao dây và đặc điểm của phần lõi cáp. Ngoài ra, có một cách khác nữa để phân biệt các loại cáp thép là dựa vào chiều xoắn của các tao cáp so với lõi cáp.
Đa phần các chủng loại cáp thép đều có cấu tạo từ nguyên liệu thô là thép cacbon trên dây chuyền công nghệ hiện đại và sử dụng trong đó nguyên liệu phụ từ xơ thực vật để làm lõi cáp. Bên cạnh đó, để tăng độ bền cho sợi cáp, sản phẩm còn được mạ kẽm, mạ dầu,…
Dây cáp thép sẽ qua Quy trình sản xuất tuân theo một trình tự chung, gồm có các bước sau:
- Kéo rút: thép cacbon được kéo để thu nhỏ kích thước và được cuốn qua máy cuốn thô. Kích thước này sẽ tùy thuộc vào yêu cầu của nhà sản xuất.
- Xử lý trên bề mặt: chúng được mạ kẽm, mạ dầu hay mỡ bò… nhằm giúp cho sợi cáp có được tính ổn định, linh hoạt và tăng tuổi thọ sử dụng hơn.
- Xoắn và bện cáp: sau khi trải qua 2 khâu trên, các sợi cáp thép sẽ được xoắn lại thành các dánh cáp nhỏ, chúng được bện theo tiêu chuẩn riêng. Tùy thuộc vào công năng sử dụng của từng loại cáp mà chúng sẽ được xoắn và bện cáp khác nhau, lõi bên trong có thể là 1 sợi cáp thép độc lập hay lõi xơ thực vật.
- Đóng gói: sản phẩm hoàn thiện sẽ được đóng gói thành cuộn. Dây cáp sẽ được quấn chặt vào tang cuốn gỗ, kèm theo nhãn đính kèm.
Thông số kĩ thuật của mỗi loại cáp sẽ được nhà sản xuất quy định trong cataloge gồm: lực chịu tải an toàn, tải trọng thực tế, đường kích cáp, cấu trúc cáp… ứng với các phi. Vì vậy, người dùng có thể dựa vào đó mà tính toán, lựa chọn đúng dòng sản phẩm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu sử dụng của mình.
1.2. Thông tin điều tra của EU đối với mặt hàng dây và cáp thép
EU đã ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức đối với dây và cáp thép nhập khẩu có xuất xứ từ Trung Quốc sau cuộc điều tra được mở rộng từ việc nhập khẩu dây và cáp thép từ Maroc và Hàn Quốc, dù có được khai báo có xuất xứ từ các nước này hay không.
Các sản phẩm Dây và cáp thép có mã HS: 7312 10 81, 7312 10 83, 7312 10 85, 7312 10 89 và 7312 10 98 (mã TARIC 7312 10 81 12, 7312 10 81 13, 7312 10 81 19, 7312 10 83 12, 7312 10 83 13, 7312 10 83 19, 7312 10 85 12, 7312 10 85 13, 7312 10 85 19, 7312 10 89 12, 7312 10 89 13, 7312 10 89 19, 7312 10 98 12, 7312 10 98 13 và 7312 10 98 19).
Theo Quy định (EC) số 1796/1999, Ủy ban châu Âu EC áp dụng thuế chống bán phá giá đối với dây và cáp thép (SRC) nhập khẩu có nguồn gốc từ Trung Quốc, Hungary, Ấn Độ, Mexico, Ba Lan, Nam Phi và Ukraina. Những biện pháp này sau đây sẽ được gọi là “các biện pháp ban đầu” và cuộc điều tra dẫn đến việc các biện pháp được áp dụng theo Quy định (EC) số 1796/1999 sau đây sẽ được gọi là “cuộc điều tra ban đầu”.
Sau đó, người ta phát hiện ra rằng hành vi vi phạm các biện pháp ban đầu liên quan đến hàng nhập khẩu từ Ukraina và Trung Quốc diễn ra qua Moldova và qua Maroc sau các cuộc điều tra theo Điều 13 của Hội đồng Quy định (EC) số 384/96. Do đó, theo Quy định (EC) số 760/2004, Hội đồng đã mở rộng điều tra và áp thuế thuế chống bán phá giá chính thức đối với hàng nhập khẩu SRC có nguồn gốc từ Ukraina đối với hàng nhập khẩu cùng loại sản phẩm được nhập khẩu từ Moldova. Tương tự, thuế chống bán phá giá đối với dây cáp thép nhập khẩu có nguồn gốc từ Trung Quốc đã được mở rộng theo Quy định của Hội đồng (EC) số 1886/2004 đối với việc nhập khẩu các sản phẩm tương tự được gửi từ Maroc.
Theo Quy định (EC) số 1858/2005, Hội đồng sau khi xem xét hết hạn theo Điều 11(2) của Quy định (EC) số 384/96, mở rộng các biện pháp ban đầu áp dụng đối với hàng nhập khẩu SRC có nguồn gốc từ Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi và Ukraine trong 5 năm. Các biện pháp áp dụng đối với hàng nhập khẩu có nguồn gốc từ Mexico đã hết hạn vào ngày 18 tháng 8 năm 2004. Khi Hungary và Ba Lan trở thành thành viên của Liên minh châu Âu vào ngày 01 tháng 5 năm 2004, các biện pháp đã bị chấm dứt vào ngày đó.
Vào tháng 5 năm 2010, theo Quy định thực thi (EU) số 400/2010 (8), Hội đồng đã gia hạn biện pháp chống bán phá giá chính thức và mức thuế áp dụng theo Quy định (EC) số 1858/2005 đối với hàng nhập khẩu SRC có nguồn gốc từ Trung Quốc đối với hàng nhập khẩu SRC được vận chuyển từ Hàn Quốc, dù có khai báo có xuất xứ từ Hàn Quốc hay không. Một số mặt hàng xuất khẩu của Hàn Quốc các nhà sản xuất đã được miễn thuế gia hạn vì họ không bị phát hiện vi phạm quy định thuế chống bán phá giá. Các biện pháp áp dụng đối với hàng nhập khẩu có nguồn gốc từ Ấn Độ đã hết hạn vào ngày 17 tháng 11 năm 2010.
Vào tháng 1 năm 2012, theo Quy định thực hiện (EU) số 102/2012 (10), Hội đồng, sau khi rà soát cuối kỳ áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu SRC có nguồn gốc từ Trung Quốc và Ukraine được mở rộng cho hàng nhập khẩu được ký gửi từ Hàn Quốc, Maroc và Môn-đô-va. Đồng thời, nhà sản xuất xuất khẩu ở Maroc được miễn các biện pháp được gia hạn bởi Quy định (EC) số 1886/2004 được miễn áp dụng các biện pháp này. Nhà sản xuất xuất khẩu tại Hàn Quốc được miễn các biện pháp được gia hạn theo Quy định thực hiện (EU) số 400/2010 cũng được miễn các biện pháp. Theo quy định tương tự, Hội đồng đã chấm dứt thủ tục tố tụng liên quan đến việc nhập khẩu SRC có nguồn gốc từ miền Nam Châu phi. Các biện pháp áp dụng đối với hàng nhập khẩu có nguồn gốc từ Nam Phi đã hết hạn vào ngày 9 tháng 2 năm 2012.
Vào tháng 4 năm 2018, theo Quy định thực hiện (EU) 2018/607 (11), Ủy ban sau khi rà soát cuối kỳ đã tiếp tục áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu SRC có nguồn gốc từ Trung Quốc và được mở rộng tới Maroc và Hàn Quốc. Các biện pháp áp dụng đối với hàng nhập khẩu có nguồn gốc từ Ukraina đã hết hạn vào ngày 10 tháng 2 năm 2017. Thuế chống bán phá giá chính thức hiện có hiệu lực lên tới 60,4%.
Sau khi công bố thông báo sắp hết hạn, Ủy ban Châu Âu đã nhận được yêu cầu xem xét lại theo Điều 11(2) của Quy định cơ bản. Yêu cầu xem xét được gửi vào ngày 17 tháng 01 năm 2023 bởi Liên đoàn Công nghiệp Dây thép Châu Âu thay mặt cho Liên minh ngành dây và cáp thép. Yêu cầu xem xét lại dựa trên cơ sở rằng việc hết hạn của các biện pháp có thể sẽ dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn hành vi bán phá giá và gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa của EU.
Chỉ có một nhà sản xuất xuất khẩu trả lời bảng câu hỏi lấy mẫu nhưng không nộp bất kỳ thông tin nào được yêu cầu sau đó. Vì vậy, Ủy ban đã thông báo cho các cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc rằng do không có sự hợp tác, Ủy ban dự định áp dụng Điều 18 của Quy định cơ bản liên quan đến những phát hiện liên quan đến Trung Quốc. Ủy ban không nhận được bất kỳ bình luận nào. Do đó, theo Điều 18 của Quy định cơ bản, những phát hiện liên quan đến khả năng xảy ra việc tiếp tục hay tái diễn việc bán phá giá đều dựa trên những thực tế sẵn có, đặc biệt là thông tin nhận được trong yêu cầu, thông tin nhận được từ một nhà sản xuất của Liên minh được lấy mẫu và từ số liệu thống kê có sẵn, cụ thể là những thông tin từ cơ sở dữ liệu Comext và Global Trade Atlas (GTA).
Mức thuế chống bán phá giá cuối cùng được áp dụng đối với sản phẩm được mô tả ở phần trên và có xuất xứ từ Trung Quốc là 60,4 %.
Mức thuế chống bán phá giá cuối cùng áp dụng đối với hàng nhập khẩu có nguồn gốc từ Trung Quốc, theo quy định ở trên được áp dụng mở rộng đối với việc nhập khẩu dây và cáp thép tương tự được ký gửi từ Maroc, dù được khai báo có xuất xứ tại Maroc hay không (mã TARIC 7312 10 81 12, 7312 10 83 12, 7312 10 85 12, 7312 10 89 12 và 7312 10 98 12) với ngoại trừ những sản phẩm được sản xuất bởi Remer Maroc SARL, Zone Industrielle, Tranche 2, Lot 10, Settat, Morocco (TARIC mã bổ sung A567) và đối với việc nhập khẩu dây và cáp thép tương tự được ký gửi từ Hàn Quốc, cho dù có khai báo xuất xứ Hàn Quốc hay không (mã TARIC 7312 10 81 13, 7312 10 83 13, 7312 10 85 13, 7312 10 89 13 và 7312 10 98 13), ngoại trừ những sản phẩm do các công ty liệt kê dưới đây sản xuất:
|
Quốc gia |
Công ty |
Mã TARIC |
|
Hàn Quốc |
Bosung Wire Rope Co., Ltd, 568,Yongdeok-ri, Hallim- myeon, Gimae-si, Gyeongsangnam-do, 621-872 |
A969 |
|
Chung Woo Rope Co., Ltd, 1682-4, Songjung-Dong, Gangseo- Gu, Busan |
A969 |
|
|
CS Co., Ltd, 31-102, Junam maeul 2-gil, Yangsan, Gyeongsangnam-do |
A969 |
|
|
Cosmo Wire Ltd, 4-10, Koyeon-Ri, Woong Chon-Myon Ulju- Kun, Ulsan |
A969 |
|
|
Dae Heung Industrial Co., Ltd, 185 Pyunglim – Ri, Dae san- Myun, Haman – Gun, Gyungnam |
A969 |
|
|
Daechang Steel Co., Ltd, 1213, Aam-daero, Nam dong-gu, Incheon |
C057 |
|
|
DSR Wire Corp., 291, Seonpyong-Ri, Seo-Myon, Suncheon-City, Jeonnam |
A969 |
|
|
Goodwire MFG. Co. Ltd, 984-23, Maegok-Dong, Yang san-City, Kyungnam |
B955 |
|
|
|
Kiswire Ltd, 37, Gurak-Ro, 141 Beon-Gil, Suyeong-Gu, Busan, Korea 48212 |
A969 |
|
|
Manho Rope & Wire Ltd, Dongho Bldg, 85-2 4 Street Joongang- Dong, Jong-gu, Busan |
A926 |
|
|
Line Metal Co. Ltd, 1259 Boncho-ri, Daeji-Myeon, Changnyeong-gun, Gyeongnam |
B926 |
|
|
Seil Wire and Cable, 47-4, Soju-Dong, Yangsan-Si, Kyungsangnamdo |
A994 |
|
|
Shin Han Rope Co., Ltd, 715-8, Gojan-Dong, Nam dong-gu, Incheon |
A969 |
|
|
Ssang Yong Cable Mfg. Co., Ltd, 1559-4 Song-Jeong Dong, Gang-Seo Gu, Busan |
A969 |
|
|
YOUNGWIRE, 71-1 Sin-Chon Dong, Changwon City, Gyungnam |
A969 |
Bảng 1: Giá trị nhập khẩu mặt hàng Dây và cáp thép từ Trung Quốc vào thị trường EU giai đoạn 2021 – 2024
ĐVT: USD
|
Tháng |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
Năm 2023 |
Năm 2024 |
|
T1 |
755.923,3 |
792.635,6 |
819.747,95 |
609.453,53 |
|
T2 |
486.356,9 |
1.019.522,5 |
719.593,96 |
767.047,08 |
|
T3 |
574.348,8 |
1.526.574,6 |
853.310,24 |
1.404.002,63 |
|
T4 |
500.112,0 |
1.231.548,2 |
950.470,65 |
1.065.906,74 |
|
T5 |
1.072.802,3 |
1.098.410,4 |
1.151.615,65 |
1.018.287,32 |
|
T6 |
599.502,5 |
844.792,6 |
666.790,15 |
1.037.564,24 |
|
T7 |
1.026.411,2 |
1.023.183,7 |
1.647.921,50 |
789.438,50 |
|
T8 |
1.098.201,9 |
1.265.687,4 |
1.144.598,41 |
1.159.723,47 |
|
T9 |
624.375,5 |
1.004.723,3 |
1.033.635,69 |
1.535.236,74 |
|
T10 |
763.471,2 |
930.212,7 |
1.328.626,93 |
|
|
T11 |
1.044.171,9 |
991.551,0 |
1.040.480,30 |
|
|
T12 |
715.882,8 |
1.120.805,8 |
892.024,53 |
|
|
Tổng |
9.261.560,23 |
12.849.647,81 |
12.248.815,96 |
9.386.660,25 |
Trong năm 2023, mức nhập khẩu Dây và cáp thép từ Trung Quốc vào EU đã giảm nhẹ so với năm 2022 (giảm 4,7%).
Năm 2024, nhập khẩu Dây và cáp thép từ Trung Quốc vào EU có xu hướng tăng trở lại so với năm 2023. Tính chung 9 tháng đầu năm, giá trị nhập khẩu mặt hàng này đạt xấp xỉ 9,4 triệu USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2023 và đạt 77% so với cả năm 2023.
Biểu đồ 1: Giá trị nhập khẩu mặt hàng Dây và cáp thép từ Trung Quốc vào thị trường EU giai đoạn 2021 - 2024
Có thể thấy, trong thời gian điều tra rà soát (tức là từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 đến ngày 31 tháng 12 năm 2022), việc nhập khẩu dây và cáp thép từ Trung Quốc vẫn ở mức rất thấp tương tự như đợt rà soát trước đó. Theo số liệu tính toán từ IHS, nhập khẩu dây và cáp thép từ Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 1,7 - 1.8% thị trường EU trong giai đoạn điều tra. Sang năm 2024, tỷ lệ này có xu hướng tăng lên, chiếm khoảng 2,1% tổng giá trị nhập khẩu của cả thị trường.
Bảng 2: Giá trị nhập khẩu mặt hàng Dây và cáp thép từ Hàn Quốc vào thị trường EU giai đoạn 2021 – 2024
ĐVT: USD
|
Tháng |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
Năm 2023 |
Năm 2024 |
|
T1 |
4.196.255,2 |
6.856.170,3 |
6.647.942,37 |
5.825.042,00 |
|
T2 |
3.405.717,4 |
5.172.511,9 |
6.433.283,28 |
3.551.184,19 |
|
T3 |
4.516.353,1 |
6.452.642,2 |
6.814.162,57 |
4.366.104,35 |
|
T4 |
5.147.369,7 |
6.212.349,5 |
6.320.301,31 |
5.736.959,45 |
|
T5 |
3.825.312,7 |
5.401.512,2 |
6.552.851,12 |
5.453.717,30 |
|
T6 |
5.714.912,1 |
6.693.014,3 |
5.519.867,48 |
3.408.121,51 |
|
T7 |
4.436.027,3 |
4.246.404,1 |
6.485.968,58 |
6.956.679,66 |
|
T8 |
5.431.352,7 |
6.840.091,2 |
5.907.130,21 |
4.798.494,60 |
|
T9 |
4.221.040,3 |
6.950.676,2 |
4.406.529,73 |
5.262.195,03 |
|
T10 |
3.607.505,4 |
6.399.874,8 |
4.819.824,39 |
|
|
T11 |
6.079.589,9 |
6.713.404,5 |
4.193.380,16 |
|
|
T12 |
5.677.598,3 |
6.223.666,3 |
4.174.349,28 |
|
|
Tổng |
56.259.034,0 |
74.162.317,3 |
68.275.590,5 |
45.358.498,1 |
Số liệu trên cho thấy giá trị nhập khẩu Dây và cáp thép từ Hàn Quốc vào EU năm 2022 tăng đáng kể so với năm 2021 (tăng hơn 31,8%).
Sang năm 2023, mức nhập khẩu Dây và cáp thép từ Hàn Quốc vào EU đã giảm so với năm 2022 (giảm gần 8%).
Năm 2024, nhập khẩu Dây và cáp thép từ Hàn Quốc vào EU đang có xu hướng giảm so với năm 2023. Tính chung 9 tháng đầu năm, giá trị nhập khẩu mặt hàng này đạt 45,35 triệu USD, giảm 17,7% so với cùng kỳ năm 2023 và mới đạt 64% so với cả năm 2023.
Biểu đồ 2: Giá trị nhập khẩu mặt hàng Dây và cáp thép từ Hàn Quốc vào thị trường EU giai đoạn 2021 - 2024
Theo số liệu tính toán từ IHS, nhập khẩu dây và cáp thép từ Hàn Quốc chiếm khoảng 9,48 - 10% tổng giá trị nhập khẩu của cả thị trường EU trong giai đoạn 2021 - 2024.
Từ những phân tích trên đây cho thấy nhập khẩu mặt hàng dây và cáp thép của EU từ các nước bị điều tra (Trung Quốc và Hàn Quốc) không bị suy giảm so với trước khi điều tra rà soát. Với khả năng tăng trưởng nhập khẩu chung của cả thị trường, kết quả này cũng cho thấy thị trường dây và cáp thép EU vẫn còn nhiều tiềm năng đối với các nhà xuất khẩu.
PHỤ LỤC
Tính đến hết năm 2023, EU đã có 182 biện pháp phòng vệ thương mại chính thức có hiệu lực (tăng thêm 05 biện pháp so với năm 2022); bao gồm: 120 biện pháp chống bán phá giá chính thức (được gia hạn đối với 36 vụ việc sau các cuộc điều tra chống lẩn tránh), 21 biện pháp chống trợ cấp (được gia hạn đối với 4 vụ việc sau các cuộc điều tra chống lẩn tránh) và 01 biện pháp tự vệ. Theo thống kê, các biện pháp này đã góp phần bảo vệ khoảng 493.000 việc làm trực tiếp tại EU.
Mức độ thực thi điều tra trong năm 2023 tương đương với những năm trước với 99 vụ việc điều tra được thực hiện, bao gồm 21 vụ việc điều tra ban đầu và 70 vụ việc rà soát. Tính đến cuối năm 2023, có 39 vụ việc điều tra đang được tiến hành.
Năm 2023, Ủy ban châu Âu đã khởi xướng 12 cuộc điều tra (10 vụ chống bán phá giá và 02 vụ chống trợ cấp), đánh dấu sự trở lại của giai đoạn trước năm 2022. Năm 2022, Ủy ban đã khởi xướng số lượng cực kỳ thấp là 05 vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp mới.
Mặc dù các cuộc điều tra thường dựa trên khiếu nại từ ngành công nghiệp, nhưng trong năm 2023, Ủy ban đã chủ động khởi xướng một cuộc điều tra liên quan đến việc nhập khẩu xe điện chạy bằng pin (BEV) từ Trung Quốc. Ủy ban đã thu thập bằng chứng cho thấy sự tồn tại của nhiều khoản trợ cấp của Trung Quốc, cũng như mối đe dọa gây tổn hại cho ngành BEV của EU do tình trạng dư thừa công suất của Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ. Ngoài ra còn có bằng chứng về việc nhập khẩu BEV giá rẻ và được trợ cấp vào EU đang tăng nhanh.
Số lượng các vụ việc rà soát được khởi xướng đã giảm từ 41 vào năm 2022 xuống còn 31 vào năm 2023. Trong đó bao gồm 10 vụ việc rà soát hết hiệu lực đối với các biện pháp hiện hành và các vụ việc rà soát tạm thời để sửa đổi hoặc điều chỉnh mức độ của các biện pháp hiện hành. Sự sụt giảm, đặc biệt là trong các đợt rà soát hết hiệu lực, có liên quan đến thực tế là có ít biện pháp hết hiệu lực vào năm 2023 hơn so với những năm trước.
Tổng cộng, 43 vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp mới và rà soát lại đã được khởi xướng, về cơ bản phù hợp với mức độ hoạt động hàng năm trong 5 năm qua.
Ủy ban đã áp dụng thuế tạm thời trong 05 cuộc điều tra chống bán phá giá và kết thúc 06 cuộc điều tra chống bán phá giá bằng cách áp dụng thuế cuối cùng.
Ủy ban đã chấm dứt 01 vụ việc điều tra chống trợ cấp mà không áp dụng biện pháp vì khiếu nại đã được rút lại. Tuy nhiên, cuộc điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm đó vẫn được tiếp tục.
Vào năm 2023, 23 đợt rà soát hết hiệu lực đã được kết thúc với mức thuế cuối cùng. Hai biện pháp chống bán phá giá đã tự động hết hiệu lực sau thời hạn áp dụng 5 năm.
Hai biện pháp tự vệ đã được rà soát trong năm 2023.
Ủy ban đã tiến hành rà soát biện pháp tự vệ mà EU áp dụng đối với việc nhập khẩu một số sản phẩm thép vào năm 2019 nhằm đánh giá xem liệu có nên chấm dứt sớm biện pháp này hay không. Đánh giá cho thấy áp lực nhập khẩu vẫn ở mức cao: Thị trường EU vẫn hấp dẫn đối với các nước xuất khẩu cả về khối lượng và giá cả, và vẫn có mức độ thâm nhập nhập khẩu cao vào thị trường EU. Lượng nhập khẩu đã tăng từ năm 2021 đến năm 2022, mặc dù mức tiêu thụ giảm. Tình trạng dư thừa công suất toàn cầu trong lĩnh vực này tiếp tục gia tăng và các nước xuất khẩu vẫn chưa tìm được đầu ra khác để bù đắp cho khối lượng thương mại bị mất tại thị trường Hoa Kỳ và EU kể từ năm 2018 và do đó rủi ro chuyển hướng thương mại vẫn còn liên quan/hiện hữu. Do đó, Ủy ban kết luận rằng việc chấm dứt sớm biện pháp bảo vệ vào ngày 30 tháng 6 năm 2023 sẽ gây nguy hiểm cho ngành thép EU và tình hình kinh tế của ngành này. Trên cơ sở dữ liệu nhập khẩu từ năm trước, Ủy ban cũng đã cập nhật danh sách các nước đang phát triển phải chịu và bị loại khỏi biện pháp này. Các sửa đổi khác đã được thực hiện đối với biện pháp bảo hộ thép nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy thương mại của một số sản phẩm nhất định giữa Vương quốc Anh và Bắc Ireland.
Vào tháng 1 năm 2023, Ủy ban đã mở một đợt rà soát để thực hiện phán quyết của Tòa án chung về biện pháp bảo hộ song phương được áp dụng vào năm 2019 đối với gạo Indica nhập khẩu từ Campuchia và Myanmar theo Chương trình ưu đãi chung. Đợt xem xét đã kết thúc vào tháng 3 năm 2024 với việc áp dụng lại biện pháp tự vệ.
Đảm bảo hiệu quả của các biện pháp phòng vệ thương mại vẫn là ưu tiên hàng đầu của Ủy ban. Do đó, Ủy ban giám sát tác động của thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đối với luồng nhập khẩu và thực hiện hành động kịp thời khi các biện pháp bị lẩn tránh hoặc trốn thuế. Hoạt động giám sát này củng cố chính sách phòng vệ thương mại của EU bằng cách đảm bảo rằng các biện pháp hiện hành được tôn trọng và cuối cùng đạt được mục đích dự kiến. Mục đích cuối cùng của hoạt động giám sát là chống lại các hoạt động lẩn tránh thuế, trốn thuế bao gồm cả gian lận.
Trong những năm gần đây, Ủy ban đã phải đối mặt với các hoạt động lẩn tránh ngày càng phức tạp. Các chương trình cơ bản hơn như 'lắp ráp tua vít' các bộ phận hoặc chỉ chuyển hàng qua các nước thứ ba ít được sử dụng hơn. Chúng nhường chỗ cho các quy trình lắp ráp đòi hỏi một số hoạt động công nghiệp có thể thay đổi bản chất của sản phẩm trong khi chỉ tăng rất ít giá trị cho hàng hóa cuối cùng. Sau đó, chúng được nhập khẩu vào EU để trốn thuế đã áp dụng trước đó. Việc giám sát liên quan đến việc liên tục phân tích luồng thương mại, tính đến tất cả các yếu tố cần thiết để diễn giải diễn biến thị trường sau khi áp dụng các biện pháp.
Một khía cạnh được giám sát chặt chẽ khi mức thuế suất thấp hơn hoặc bằng 0 đối với các nhà xuất khẩu cụ thể, được áp dụng trên cơ sở các trường hợp cá biệt, mở ra khả năng cho các nhà điều hành gian lận trốn thuế thông qua việc chuyển hướng bằng cách bán sản phẩm cho một nhà sản xuất xuất khẩu không phải chịu các biện pháp chống bán phá giá hoặc phải chịu mức thuế thấp hơn, sau đó nhà sản xuất này sẽ xuất khẩu sản phẩm. Những rủi ro này sẽ được ngăn chặn bằng các điều khoản giám sát đặc biệt.
Trong năm 2023, các điều khoản như vậy đã được đưa vào tất cả các quy định áp dụng các biện pháp dứt khoát với các mức thuế suất riêng lẻ khác nhau, nâng tổng số biện pháp có điều khoản giám sát đặc biệt lên 62. Nếu Ủy ban có đủ bằng chứng, từ các hoạt động giám sát của chính mình hoặc từ ngành công nghiệp, rằng các biện pháp đang bị lẩn tránh, Ủy ban sẽ mở một cuộc điều tra chống lẩn tránh để bảo vệ ngành sản xuất trong nước.
2. Xu hướng điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào EU
Các thống kê hiện tại cho thấy EU ngày càng nghiêm ngặt trong việc bảo vệ ngành sản xuất nội địa của mình thông qua các biện pháp phòng vệ thương mại.
Nhìn chung, EU ngày càng gia tăng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là các sản phẩm công nghiệp có giá trị cao và tiềm năng cạnh tranh mạnh. Điều này xuất phát từ nhu cầu bảo vệ thị trường nội địa khỏi sự cạnh tranh không lành mạnh và tránh thiệt hại cho các ngành sản xuất trong nước. Các biện pháp phòng vệ thương mại của EU thường xuyên nhắm đến các sản phẩm có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, giá thấp, và có nguy cơ gây ảnh hưởng đến ngành sản xuất của khu vực.
Một số đặc điểm chính của xu hướng này bao gồm:
- Gia tăng điều tra bán phá giá và chống trợ cấp:
Với sự cạnh tranh từ các nền kinh tế đang phát triển, EU có xu hướng tăng cường các cuộc điều tra bán phá giá và trợ cấp đối với các mặt hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Điều này là do lo ngại về giá trị công bằng của hàng hóa cũng như các biện pháp hỗ trợ từ phía nhà nước có thể gây ảnh hưởng đến sự cạnh tranh trong nội bộ của thị trường EU.
Trong một số trường hợp, EU không chờ đến khi có thiệt hại nghiêm trọng xảy ra mà đã thực hiện các biện pháp dự phòng nhằm ngăn chặn những rủi ro tiềm tàng cho ngành sản xuất trong nước. Ví dụ, đối với mặt hàng thép, EU đã áp dụng các biện pháp kiểm soát nhập khẩu dựa trên hạn ngạch và mức thuế bổ sung để ngăn chặn thép giá rẻ tràn vào châu Âu.
- Chú trọng vào tiêu chuẩn môi trường và lao động:
Bên cạnh các biện pháp phòng vệ thương mại truyền thống, EU đang ngày càng quan tâm đến việc bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn lao động trong các hoạt động thương mại quốc tế. Các sản phẩm của Việt Nam nếu không tuân thủ các tiêu chuẩn này có nguy cơ bị cấm nhập khẩu hoặc áp dụng các biện pháp kiểm soát bổ sung.