CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI EU ĐANG ĐIỀU TRA ÁP DỤNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THÉP DẸT CÁN NÓNG XUẤT KHẨU TỪ CÁC NƯỚC

1. Thông tin chung về vụ việc điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng thép dẹt cán nóng xuất khẩu từ các nước

a) Mặt hàng thép dẹt cán nóng

Thép dẹt cán nóng (Hot-rolled flat - HRF) là một số sản phẩm thép cán phẳng, không hợp kim hoặc hợp kim khác (không bao gồm thép không gỉ), có hoặc không ở dạng cuộn (kể cả các sản phẩm cắt theo chiều dài và dải hẹp), chưa được gia công hơn mức cán nóng (cán nóng phẳng), chưa dát phủ, mạ hoặc tráng, trừ thép điện silicon định hướng dạng hạt.

Hầu hết thép được sản xuất thông qua hai tuyến đường cơ bản: tuyến lò cao/lò oxy cơ bản (tuyến BOF) và tuyến lò điện hồ quang (tuyến EAF). Lò cao sản xuất sắt từ quặng sắt. Sau đó, một bộ chuyển đổi oxy cơ bản biến sắt và một số phế liệu bổ sung (10-15%) thành thép. Oxy được sử dụng để thổi vào lò cao, giúp loại bỏ các tạp chất như các-bon từ quặng sắt và các tạp chất khác. Lò hồ quang điện sản xuất thép 100% từ phế liệu thu thập để tái chế.

Hình 01: Quy trình sản xuất thép dẹt cán nóng

Ở giai đoạn luyện thép thứ cấp, thép thô từ BOF sẽ chuyển thành một cái muôi. Trong quá trình khai thác này, nhiều hợp kim được thêm vào để tạo thành thành phần đáp ứng các đặc điểm kỹ thuật cấp thép. Tiếp theo là đúc. Loại máy được sử dụng phổ biến nhất để đúc là máy đúc liên tục. Thép đổ đầy thông qua các van ở đáy muôi, có thể kiểm soát tốc độ dòng chảy của nó. Máy đúc sẽ chỉ có một hoặc hai khuôn nếu tấm được đúc để cán thành dải phẳng. Sau đó, muôi chứa thép đã qua xử lý được nhúng vào tháp pháo và thép được đúc thông qua dư thừa vào khuôn. Thép nóng sẽ đi qua nhiều bộ cuộn liên tiếp gọi là giá đỡ. Cuộn cán nóng được tạo ra bằng cách cán tấm liên tục trong máy cán. Nếu được đúc liên tục thì các sản phẩm thường được nạp trực tiếp vào máy cán ở nhiệt độ thích hợp. Nếu không đúc liên tục, nguyên vật liệu bắt đầu ở nhiệt độ phòng và phải được làm nóng. Việc kiểm soát chặt chẽ các nhiệt độ và bề mặt cuộn là điều cần thiết trong việc sản xuất HRF. HRF thường sẽ được cuộn lại ở cuối cuộn để vận chuyển dễ dàng hơn. Sau quá trình cán nóng, cuộn dây sẽ đi qua dây chuyền tẩy rửa, nơi bề mặt vảy được loại bỏ khỏi bề mặt của cuộn dây để tạo ra bề mặt hấp dẫn cho thép.

HRF được sản xuất như nguyên liệu thô (ví dụ: đối với cuộn cán nguội và cuộn tráng) và để sử dụng trực tiếp trong các ứng dụng công nghiệp khác nhau như ống thép được sử dụng trong xây dựng, đóng tàu, bình chứa khí, bình chịu áp lực và đường ống dẫn năng lượng và trong một số những trường hợp khác.

b) Vụ việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với mặt hàng thép dẹt cán nóng của EU

  1. Vụ việc EU điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với mặt hàng thép dẹt cán nóng nhập khẩu từ Trung Quốc

Ngày 13 tháng 02 năm 2016, Ủy ban Châu Âu (EC) đã ra quyết định khởi xướng điều tra chống chống bán phá giá đối với HRF nhập khẩu từ Trung Quốc.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  

Ngày 16 tháng 05 năm 2016, EC đã ra quyết định khởi xướng điều tra chống trợ cấp đối với HRF nhập khẩu từ Trung Quốc.

Hàng hóa bị điều tra là một số sản phẩm thép cán phẳng, không hợp kim hoặc hợp kim khác (không bao gồm thép không gỉ), có hoặc không ở dạng cuộn (kể cả các sản phẩm cắt theo chiều dài và dải hẹp), chưa được gia công hơn mức cán nóng (cán nóng phẳng), chưa dát phủ, mạ hoặc tráng, có xuất xứ từ Trung Quốc.

Các sản phẩm sau đây được loại trừ:

- các sản phẩm bằng thép không gỉ và thép điện silicon định hướng dạng hạt,

- các sản phẩm thép công cụ và thép tốc độ cao,

- các sản phẩm không ở dạng cuộn, không có hoa văn chạm nổi, có độ dày trên 10 mm và chiều rộng 600 mm hoặc hơn, và

- các sản phẩm không ở dạng cuộn, không có hoa văn chạm nổi, có chiều dày từ 4,75 mm trở lên nhưng không quá 10 mm và có chiều rộng từ 2.050 mm trở lên.

Mã HS: 7208 10 00, 7208 25 00, 7208 26 00, 7208 27 00, 7208 36 00, 7208 37 00, 7208 38 00, 7208 39 00, 7208 40 00, 7208 52 10, 7208 52 99, 7208 53 10, 7208 53 90, 7208 54 00, 7211 13 00, 7211 14 00, 7211 19 00, ex 7225 19 10, 7225 30 90, ex 7225 40 60, 7225 40 90, ex 7226 19 10, 7226 91 91 và 7226 91 99.

Ngày 06 tháng 10 năm 2016, EC đã đưa ra kết luận áp thuế chống bán phá giá tạm thời đối với các nhà xuất khẩu HRF của Trung Quốc như sau:

Công ty

Thuế chống bán phá giá tạm thời (%)

Bengang Steel Plates Co., Ltd.

17,1

Handan Iron & Steel Group Han-Bao Co., Ltd.;

Hebei Iron & Steel Co., Ltd. Tangshan Branch;

Hebei Iron & Steel Co., Ltd. Chengde Branch

13,2

Zhangjiagang Hongchang Plate Co., Ltd.;

Zhangjiagang GTA Plate Co., Ltd.

22,6

Angang Steel Company Limited

Inner Mongolia Baotou Steel Union Co., Ltd.;

Jiangyin Xingcheng Special Steel Works Co., Ltd.;

Shanxi Taigang Stainless Steel Co., Ltd.;

Shougang Jingtang United Iron and Steel Co. Ltd.;

Maanshan Iron & Steel Co., Ltd;

Rizhao Steel Wire Co., Ltd.;

Rizhao Baohua New Material Co., Ltd.;

Tangshan Yanshan Iron and Steel Co., Ltd;

Wuhan Iron & Steel Co., Ltd.

18

Các công ty khác

22,6

Ngày 05 tháng 04 năm 2017, EC đã đưa ra kết luận áp thuế chống bán phá giá chính thức đối với các nhà xuất khẩu HRF của Trung Quốc như sau:

Công ty

Thuế chống bán phá giá chính thức (%)

Bengang Steel Plates Co., Ltd.

28,1

Handan Iron & Steel Group Han-Bao Co., Ltd.;

Hesteel Co., Ltd. Tangshan Branch;

Hesteel Co., Ltd. Chengde Branch

18,1

Zhangjiagang Hongchang Plate Co., Ltd.;

Zhangjiagang GTA Plate Co., Ltd.

35,9

Angang Steel Company Limited

Inner Mongolia Baotou Steel Union Co., Ltd.;

Jiangyin Xingcheng Special Steel Works Co., Ltd.;

Shanxi Taigang Stainless Steel Co., Ltd.;

Shougang Jingtang United Iron and Steel Co. Ltd.;

Maanshan Iron & Steel Co., Ltd;

Rizhao Steel Wire Co., Ltd.;

Rizhao Baohua New Material Co., Ltd.;

Tangshan Yanshan Iron and Steel Co., Ltd;

Wuhan Iron & Steel Co., Ltd.

27,3

Các công ty khác

35,9

 

Ngày 08 tháng 06 năm 2017, EC đã đưa ra kết luận áp thuế chống trợ cấp chính thức và sửa đổi thuế chống bán phá giá đối với các nhà xuất khẩu HRF của Trung Quốc như sau:

Công ty

Thuế chống trợ cấp (%)

Thuế chống bán phá giá sau khi sửa đổi (%)

Bengang Steel Plates Co., Ltd.

28,1

0

Handan Iron & Steel Group Han-Bao Co., Ltd.;

Hesteel Co., Ltd. Tangshan Branch;

Hesteel Co., Ltd. Chengde Branch

7,8

10,3

Zhangjiagang Hongchang Plate Co., Ltd.;

Zhangjiagang GTA Plate Co., Ltd.

4,6

31,3

Shougang Jingtang United Iron and Steel Co. Ltd.;

Beijing Shougang Co. Ltd., Qian'an Iron & Steel branch

31,5

0

Angang Steel Company Limited

17,1

10,8

Inner Mongolia Baotou Steel Union Co., Ltd.;

Jiangyin Xingcheng Special Steel Works Co., Ltd.;

Shanxi Taigang Stainless Steel Co., Ltd.;

Tangshan Yanshan Iron and Steel Co., Ltd.

35,9

0

Maanshan Iron & Steel Co., Ltd;

Rizhao Steel Wire Co., Ltd.;

Rizhao Baohua New Material Co., Ltd.;

Wuhan Iron & Steel Co., Ltd.

17,1

10,8

Các công ty khác

35,9

0

Ngày 03 tháng 09 năm 2019, EC đã sửa đổi thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá đối với HRF bị áp dụng biện pháp tự vệ:

Công ty

Thuế chống trợ cấp sau khi thuế tự vệ đến hạn

Thuế chống bán phá giá sau khi thuế tự vệ đến hạn

Bengang Steel Plates Co., Ltd.

3,1

0

Handan Iron & Steel Group Han-Bao Co., Ltd.;

Hesteel Co., Ltd. Tangshan Branch;

Hesteel Co., Ltd. Chengde Branch

0

0

Zhangjiagang Hongchang Plate Co., Ltd.;

Zhangjiagang GTA Plate Co., Ltd.

4,6

6,3

Shougang Jingtang United Iron and Steel Co. Ltd.;

Beijing Shougang Co. Ltd., Qian'an Iron & Steel branch

6,5

0

Angang Steel Company Limited

2,9

0

Inner Mongolia Baotou Steel Union Co., Ltd.;

Jiangyin Xingcheng Special Steel Works Co., Ltd.;

Shanxi Taigang Stainless Steel Co., Ltd.;

Tangshan Yanshan Iron and Steel Co., Ltd.

10,9

0

Maanshan Iron & Steel Co., Ltd;

Rizhao Steel Wire Co., Ltd.;

Rizhao Baohua New Material Co., Ltd.;

Wuhan Iron & Steel Co., Ltd.

2,9

0

Các công ty khác

10,9

0

Ngày 12 tháng 07 năm 2021, EC đã đưa ra thông báo biện pháp chống bán phá giá đối với HRF sẽ hết hiệu lực vào ngày 07 tháng 04 năm 2022.

Ngày 16 tháng 09 năm 2021, EC đã đưa ra thông báo biện pháp chống trợ cấp đối với HRF sẽ hết hiệu lực vào ngày 10 tháng 06 năm 2022.

Ngày 05 tháng 04 năm 2022, EC đã ra quyết định khởi xướng rà soát cuối kì biện pháp chống bán phá giá đối với HRF nhập khẩu từ Trung Quốc. Trước đó, EC đã nhận được hồ sơ yêu cầu rà soát đối với HRF nhập khẩu từ Trung Quốc vào ngày 04 tháng 02 năm 2022 bởi EUROFER (nguyên đơn) đại diện cho các nhà sản xuất HRF của EU.

Ngày 08 tháng 06 năm 2022, EC đã ra quyết định khởi xướng rà soát cuối kì biện pháp chống trợ cấp đối với HRF nhập khẩu từ Trung Quốc. Trước đó, EC đã nhận được hồ sơ yêu cầu rà soát đối với HRF nhập khẩu từ Trung Quốc vào ngày 09 tháng 03 năm 2022 bởi EUROFER (nguyên đơn) đại diện cho các nhà sản xuất HRF của EU.

Ngày 07 tháng 06 năm 2023, EC đã đưa ra kết luận áp thuế chống trợ cấp và chống bán phá giá cuối cùng như sau:

Công ty

Thuế chống trợ cấp (%)

Thuế chống bán phá giá (%)

Bengang Steel Plates Co., Ltd.

28,1

0

Handan Iron & Steel Group Han-Bao Co., Ltd.;

Hesteel Co., Ltd. Tangshan Branch;

Hesteel Co., Ltd. Chengde Branch

7,8

10,3

Zhangjiagang Hongchang Plate Co., Ltd.;

Zhangjiagang GTA Plate Co., Ltd.

4,6

31,3

Shougang Jingtang United Iron and Steel Co. Ltd.;

Beijing Shougang Co. Ltd., Qian'an Iron & Steel branch

31,5

0

Angang Steel Company Limited

17,1

10,8

Inner Mongolia Baotou Steel Union Co., Ltd.;

Jiangyin Xingcheng Special Steel Works Co., Ltd.;

Shanxi Taigang Stainless Steel Co., Ltd.;

Tangshan Yanshan Iron and Steel Co., Ltd.

35,9

0

Maanshan Iron & Steel Co., Ltd;

Rizhao Steel Wire Co., Ltd.;

Rizhao Baohua New Material Co., Ltd.;

Wuhan Iron & Steel Co., Ltd.

17,1

10,8

Các công ty khác

35,9

0

2. Phân tích tình hình xuất khẩu mặt hàng thép dẹt cán nóng từ các nước bị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại sang EU giai đoạn 2021 - 2024

Biểu đồ 1: Giá trị xuất khẩu thép dẹt cán nóng từ Trung Quốc sang EU giai đoạn 2017 - 2023

Đơn vị: USD

Nguồn: IHS Markit

Sau khi áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, lượng xuất khẩu thép dẹt cán nóng từ Trung Quốc sang EU giảm mạnh. Trong giai đoạn 2017 - 2023, giá trị xuất khẩu thép dẹt cán nóng từ Trung Quốc sang EU biến động mạnh. Từ năm 2017 đến 2020, giá trị xuất khẩu giảm mạnh từ 11 triệu USD xuống gần 1 triệu USD, ghi nhận mức tăng gần 110%. Tuy nhiên, đến năm 2021, xuất khẩu tăng vọt lên 22,4 triệu USD cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành thép dẹt cán nóng ở Trung Quốc.

Sau đó, từ năm 2021 đến 2023, xuất khẩu chứng kiến sự sụt giảm mạnh như giai đoạn trước, tương đương 110% từ trên 22 triệu USD năm 2021 xuống còn hơn 2 triệu USD năm 2023. Các nguyên nhân chính được cho là việc EU áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với thép dẹt cán nóng nhập khẩu từ Trung Quốc và tình hình suy thoái kinh tế tại EU, làm giảm nhu cầu nhập khẩu.

Biểu đồ 2: Giá trị xuất khẩu thép dẹt cán nóng từ Trung Quốc sang EU năm 2024

Đơn vị: USD

Nguồn: IHS Markit

Giá trị xuất khẩu thép dẹt cán nóng từ Trung Quốc sang EU trong năm 2024 (tính từ tháng 1 đến tháng 9) cho thấy sự phục hồi nhẹ. Năm 2023, giá trị xuất khẩu từ Trung Quốc sang EU là 2,4 triệu USD, trong khi 9 tháng đầu năm 2024, giá trị xuất khẩu từ Trung Quốc sang EU là 2,8 triệu USD. Bắt đầu từ tháng 1 với giá trị xuất khẩu là 233 nghìn USD, con số này giảm đáng kể xuống 169 nghìn USD vào tháng 2. Tuy nhiên, vào tháng 3, giá trị xuất khẩu đã tăng trở lại lên 220 nghìn USD. Đặc biệt, vào tháng 4, xuất khẩu tăng mạnh lên 495 nghìn USD, sau đó chứng kiến giảm mạnh vào tháng 5 xuống còn 185 nghìn USD. Tháng 6 tăng lên ở mức 288 nghìn USD trước khi bật tăng mạnh ở tháng 7 đạt đỉnh với 524 nghìn USD, rồi giảm xuống còn 419 nghìn USD vào tháng 8, và cuối cùng là 277 nghìn USD vào tháng 9.

Xu hướng này cho thấy, mặc dù có sự biến động theo từng tháng, nhưng nhìn chung, giá trị xuất khẩu thép dẹt cán nóng từ Trung Quốc sang EU trong năm 2024 có sự phục hồi nhẹ so với năm trước.

 

 

PHỤ LỤC

TÌNH HÌNH VÀ XU HƯỚNG ĐIỀU TRA ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀO EU

  1. Tình hình điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào EU

Tính đến hết năm 2023, EU đã có 182 biện pháp phòng vệ thương mại chính thức có hiệu lực (tăng thêm 05 biện pháp so với năm 2022); bao gồm: 120 biện pháp chống bán phá giá chính thức (được gia hạn đối với 36 vụ việc sau các cuộc điều tra chống lẩn tránh), 21 biện pháp chống trợ cấp (được gia hạn đối với 4 vụ việc sau các cuộc điều tra chống lẩn tránh) và 01 biện pháp tự vệ. Theo thống kê, các biện pháp này đã góp phần bảo vệ khoảng 493.000 việc làm trực tiếp tại EU.

Mức độ thực thi điều tra trong năm 2023 tương đương với những năm trước với 99 vụ việc điều tra được thực hiện, bao gồm 21 vụ việc điều tra ban đầu và 70 vụ việc rà soát. Tính đến cuối năm 2023, có 39 vụ việc điều tra đang được tiến hành.

  1. Đối với hoạt động điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp

Năm 2023, Ủy ban châu Âu đã khởi xướng 12 cuộc điều tra (10 vụ chống bán phá giá và 02 vụ chống trợ cấp), đánh dấu sự trở lại của giai đoạn trước năm 2022. Năm 2022, Ủy ban đã khởi xướng số lượng cực kỳ thấp là 05 vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp mới.

Mặc dù các cuộc điều tra thường dựa trên khiếu nại từ ngành công nghiệp, nhưng trong năm 2023, Ủy ban đã chủ động khởi xướng một cuộc điều tra liên quan đến việc nhập khẩu xe điện chạy bằng pin (BEV) từ Trung Quốc. Ủy ban đã thu thập bằng chứng cho thấy sự tồn tại của nhiều khoản trợ cấp của Trung Quốc, cũng như mối đe dọa gây tổn hại cho ngành BEV của EU do tình trạng dư thừa công suất của Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ. Ngoài ra còn có bằng chứng về việc nhập khẩu BEV giá rẻ và được trợ cấp vào EU đang tăng nhanh.

Số lượng các vụ việc rà soát được khởi xướng đã giảm từ 41 vào năm 2022 xuống còn 31 vào năm 2023. Trong đó bao gồm 10 vụ việc rà soát hết hiệu lực đối với các biện pháp hiện hành và các vụ việc rà soát tạm thời để sửa đổi hoặc điều chỉnh mức độ của các biện pháp hiện hành. Sự sụt giảm, đặc biệt là trong các đợt rà soát hết hiệu lực, có liên quan đến thực tế là có ít biện pháp hết hiệu lực vào năm 2023 hơn so với những năm trước.

Tổng cộng, 43 vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp mới và rà soát lại đã được khởi xướng, về cơ bản phù hợp với mức độ hoạt động hàng năm trong 5 năm qua.

Ủy ban đã áp dụng thuế tạm thời trong 05 cuộc điều tra chống bán phá giá và kết thúc 06 cuộc điều tra chống bán phá giá bằng cách áp dụng thuế cuối cùng.

Ủy ban đã chấm dứt 01 vụ việc điều tra chống trợ cấp mà không áp dụng biện pháp vì khiếu nại đã được rút lại. Tuy nhiên, cuộc điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm đó vẫn được tiếp tục.

Vào năm 2023, 23 đợt rà soát hết hiệu lực đã được kết thúc với mức thuế cuối cùng. Hai biện pháp chống bán phá giá đã tự động hết hiệu lực sau thời hạn áp dụng 5 năm.

  1. Đối với hoạt động điều tra tự vệ

Hai biện pháp tự vệ đã được rà soát trong năm 2023.

Ủy ban đã tiến hành rà soát biện pháp tự vệ mà EU áp dụng đối với việc nhập khẩu một số sản phẩm thép vào năm 2019 nhằm đánh giá xem liệu có nên chấm dứt sớm biện pháp này hay không. Đánh giá cho thấy áp lực nhập khẩu vẫn ở mức cao: Thị trường EU vẫn hấp dẫn đối với các nước xuất khẩu cả về khối lượng và giá cả, và vẫn có mức độ thâm nhập nhập khẩu cao vào thị trường EU. Lượng nhập khẩu đã tăng từ năm 2021 đến năm 2022, mặc dù mức tiêu thụ giảm. Tình trạng dư thừa công suất toàn cầu trong lĩnh vực này tiếp tục gia tăng và các nước xuất khẩu vẫn chưa tìm được đầu ra khác để bù đắp cho khối lượng thương mại bị mất tại thị trường Hoa Kỳ và EU kể từ năm 2018 và do đó rủi ro chuyển hướng thương mại vẫn còn liên quan/hiện hữu. Do đó, Ủy ban kết luận rằng việc chấm dứt sớm biện pháp bảo vệ vào ngày 30 tháng 6 năm 2023 sẽ gây nguy hiểm cho ngành thép EU và tình hình kinh tế của ngành này. Trên cơ sở dữ liệu nhập khẩu từ năm trước, Ủy ban cũng đã cập nhật danh sách các nước đang phát triển phải chịu và bị loại khỏi biện pháp này. Các sửa đổi khác đã được thực hiện đối với biện pháp bảo hộ thép nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy thương mại của một số sản phẩm nhất định giữa Vương quốc Anh và Bắc Ireland.

Vào tháng 1 năm 2023, Ủy ban đã mở một đợt rà soát để thực hiện phán quyết của Tòa án chung về biện pháp bảo hộ song phương được áp dụng vào năm 2019 đối với gạo Indica nhập khẩu từ Campuchia và Myanmar theo Chương trình ưu đãi chung. Đợt xem xét đã kết thúc vào tháng 3 năm 2024 với việc áp dụng lại biện pháp tự vệ.

  1. Đối với hoạt động điều tra chống lẩn tránh

Đảm bảo hiệu quả của các biện pháp phòng vệ thương mại vẫn là ưu tiên hàng đầu của Ủy ban. Do đó, Ủy ban giám sát tác động của thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đối với luồng nhập khẩu và thực hiện hành động kịp thời khi các biện pháp bị lẩn tránh hoặc trốn thuế. Hoạt động giám sát này củng cố chính sách phòng vệ thương mại của EU bằng cách đảm bảo rằng các biện pháp hiện hành được tôn trọng và cuối cùng đạt được mục đích dự kiến. Mục đích cuối cùng của hoạt động giám sát là chống lại các hoạt động lẩn tránh thuế, trốn thuế bao gồm cả gian lận.

Trong những năm gần đây, Ủy ban đã phải đối mặt với các hoạt động lẩn tránh ngày càng phức tạp. Các chương trình cơ bản hơn như 'lắp ráp tua vít' các bộ phận hoặc chỉ chuyển hàng qua các nước thứ ba ít được sử dụng hơn. Chúng nhường chỗ cho các quy trình lắp ráp đòi hỏi một số hoạt động công nghiệp có thể thay đổi bản chất của sản phẩm trong khi chỉ tăng rất ít giá trị cho hàng hóa cuối cùng. Sau đó, chúng được nhập khẩu vào EU để trốn thuế đã áp dụng trước đó. Việc giám sát liên quan đến việc liên tục phân tích luồng thương mại, tính đến tất cả các yếu tố cần thiết để diễn giải diễn biến thị trường sau khi áp dụng các biện pháp.

Một khía cạnh được giám sát chặt chẽ khi mức thuế suất thấp hơn hoặc bằng 0 đối với các nhà xuất khẩu cụ thể, được áp dụng trên cơ sở các trường hợp cá biệt, mở ra khả năng cho các nhà điều hành gian lận trốn thuế thông qua việc chuyển hướng bằng cách bán sản phẩm cho một nhà sản xuất xuất khẩu không phải chịu các biện pháp chống bán phá giá hoặc phải chịu mức thuế thấp hơn, sau đó nhà sản xuất này sẽ xuất khẩu sản phẩm. Những rủi ro này sẽ được ngăn chặn bằng các điều khoản giám sát đặc biệt.

Trong năm 2023, các điều khoản như vậy đã được đưa vào tất cả các quy định áp dụng các biện pháp dứt khoát với các mức thuế suất riêng lẻ khác nhau, nâng tổng số biện pháp có điều khoản giám sát đặc biệt lên 62. Nếu Ủy ban có đủ bằng chứng, từ các hoạt động giám sát của chính mình hoặc từ ngành công nghiệp, rằng các biện pháp đang bị lẩn tránh, Ủy ban sẽ mở một cuộc điều tra chống lẩn tránh để bảo vệ ngành sản xuất trong nước.

2. Xu hướng điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào EU

Các thống kê hiện tại cho thấy EU ngày càng nghiêm ngặt trong việc bảo vệ ngành sản xuất nội địa của mình thông qua các biện pháp phòng vệ thương mại.

Nhìn chung, EU ngày càng gia tăng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là các sản phẩm công nghiệp có giá trị cao và tiềm năng cạnh tranh mạnh. Điều này xuất phát từ nhu cầu bảo vệ thị trường nội địa khỏi sự cạnh tranh không lành mạnh và tránh thiệt hại cho các ngành sản xuất trong nước. Các biện pháp phòng vệ thương mại của EU thường xuyên nhắm đến các sản phẩm có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, giá thấp, và có nguy cơ gây ảnh hưởng đến ngành sản xuất của khu vực.

Một số đặc điểm chính của xu hướng này bao gồm:

- Gia tăng điều tra bán phá giá và chống trợ cấp:

Với sự cạnh tranh từ các nền kinh tế đang phát triển, EU có xu hướng tăng cường các cuộc điều tra bán phá giá và trợ cấp đối với các mặt hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Điều này là do lo ngại về giá trị công bằng của hàng hóa cũng như các biện pháp hỗ trợ từ phía nhà nước có thể gây ảnh hưởng đến sự cạnh tranh trong nội bộ của thị trường EU.

  • Áp dụng các biện pháp phòng vệ dự phòng:

Trong một số trường hợp, EU không chờ đến khi có thiệt hại nghiêm trọng xảy ra mà đã thực hiện các biện pháp dự phòng nhằm ngăn chặn những rủi ro tiềm tàng cho ngành sản xuất trong nước. Ví dụ, đối với mặt hàng thép, EU đã áp dụng các biện pháp kiểm soát nhập khẩu dựa trên hạn ngạch và mức thuế bổ sung để ngăn chặn thép giá rẻ tràn vào châu Âu.

- Chú trọng vào tiêu chuẩn môi trường và lao động:

Bên cạnh các biện pháp phòng vệ thương mại truyền thống, EU đang ngày càng quan tâm đến việc bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn lao động trong các hoạt động thương mại quốc tế. Các sản phẩm của Việt Nam nếu không tuân thủ các tiêu chuẩn này có nguy cơ bị cấm nhập khẩu hoặc áp dụng các biện pháp kiểm soát bổ sung.