Trang chủ Tin tức

Ban Hội thẩm vụ việc DS595 ban hành báo cáo liên quan đến việc Thổ Nhĩ Kỳ kiện EU về biện pháp tự vệ với thép

05/05/2022 - Ngày 29/4/2022, Báo cáo của Ban Hội thẩm tại vụ việc Thổ Nhĩ Kỳ kiện Liên minh châu Âu (EU) về biện pháp tự vệ của EU với thép (DS595) (Liên minh Châu Âu - Các biện pháp tự vệ đối với một số sản phẩm thép) đã được công bố.

Các điều khoản được phán quyết dựa trên: Điều XIX:1(a), XIII:2, XIII:2(d) GATT 1994 và các Điều 2.1, 3.1, 4.1 (b), 4.1 (c), 4.2 (a), 4.2 (b ), 4.2 (c), 5.1, 5.2 (a) và 7.4 Hiệp định về các biện pháp tự vệ (SGA).

Theo đó, Ban hội thẩm của WTO bác bỏ hầu hết các khiếu nại của Thổ Nhĩ Kỳ đối với biện pháp tự vệ thép của EU. Ban hội thẩm đã làm rõ các quy định của WTO về các biện pháp tự vệ, do đó xác nhận sự sẵn có của công cụ tự vệ để bảo vệ một ngành sản xuất trong nước khi ngành này bị thiệt hại nghiêm trọng hoặc bị đe dọa do nhập khẩu gia tăng.

Ban hội thẩm kết luận biện pháp tự vệ đối với thép của EU phù hợp với WTO về hầu hết các điểm mà Thổ Nhĩ Kỳ đã khiếu kiện, trong khi họ cũng kết luận, trên 3 điểm, rằng biện pháp tự vệ của EU không có đủ lý do. Theo đó, EU có nghĩa vụ thực hiện phán quyết sau khi báo cáo chính thức được thông qua tại WTO.

Bước tiếp theo

Báo cáo của ban hội thẩm WTO là phải được WTO thông qua trong vòng 60 ngày tới để có hiệu lực. Sau đó, EU sẽ nêu ý định về cách thức thực hiện phán quyết của WTO và thời gian mà EU cần đề thực hiện.

Tranh chấp này (vụ việc DS595) đã được Thổ Nhĩ Kỳ kiện EU vào tháng 3/2020. Vụ việc này được điều chỉnh bởi thỏa thuận trọng tài kháng cáo giữa EU và Thổ Nhĩ Kỳ được ký kết vào ngày 22/3/2022. EU và Thổ Nhĩ Kỳ đã đảm bảo rằng, bất chấp việc Cơ quan Phúc thẩm bị tê liệt, những tranh chấp này có thể tiếp tục được hưởng lợi từ một hệ thống giải quyết tranh chấp hoạt động đầy đủ tại WTO. Tuy nhiên, trong vụ việc này, không bên nào kháng cáo báo cáo của ban hội thẩm.

Về bản chất, tranh chấp này liên quan đến biện pháp tự vệ thép của EU do EU áp đặt vào tháng 2/2019. Biện pháp này là kết quả của một cuộc điều tra cho thấy nhập khẩu vào EU đã tăng do ảnh hưởng của những diễn biến không lường trước được, chẳng hạn như xu hướng dư thừa công suất toàn cầu, và sự gia tăng của các biện pháp hạn chế thương mại đối với thép trên toàn thế giới, có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất thép của EU. Biện pháp này cũng được thông qua trong bối cảnh Mỹ đã áp thuế 25% đối với thép nhập khẩu vào tháng 3/2018 theo các biện pháp Mục 232, do đó tạo ra nguy cơ chuyển hướng thương mại thép vào thị trường EU. Ban đầu, biện pháp này được áp dụng trong thời hạn 3 năm, và sau đó nó được gia hạn về nguyên tắc cho đến ngày 30/6/2024.

Một số nội dung chính của vụ việc như sau:

A. Việc giải thích và áp dụng Điều XIX: 1(a) GATT 1994 , bao gồm:

1. Theo Điều XIX:1(a), biện pháp tự vệ chỉ có thể được áp dụng cho một sản phẩm nếu các trường hợp và điều kiện cần thiết để áp dụng biện pháp tự vệ đã được xác minh đối với sản phẩm đó. Tương tự, Điều 2.1 Hiệp định Tự vệ quy định rằng Thành viên có thể áp dụng biện pháp tự vệ "đối với một sản phẩm" "chỉ khi" Thành viên đó đã xác định rằng sản phẩm bị áp dụng biện pháp tự vệ giống với sản phẩm mà Thành viên đó đã xác định rằng các điều kiện để áp dụng biện pháp tự vệ được đáp ứng.

2. Điều XIX:1(a) và Hiệp định Tự vệ không hạn chế việc lựa chọn (các) sản phẩm bị điều tra. Cơ quan điều tra có thể điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ đối với một loạt sản phẩm được kết hợp với nhau, miễn là biện pháp tự vệ đó đáp ứng các yêu cầu khác của Điều XIX:1(a) và Hiệp định Tự vệ.

3. Một Thành viên không bị cấm áp dụng biện pháp tự vệ đối với một tập hợp con của sản phẩm hoặc các sản phẩm mà Thành viên đó khởi xướng điều tra tự vệ. Điều mà Thành viên áp dụng biện pháp tự vệ phải đảm bảo là xác minh sự tồn tại của các điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ đối với cùng một sản phẩm mà mình áp dụng biện pháp tự vệ.

4. Một cơ quan có thẩm quyền không bị cấm kiểm tra sự tồn tại của các điều kiện cần thiết, bao gồm cả việc gia tăng nhập khẩu, đối với các phân đoạn của sản phẩm đang được điều tra, với điều kiện là cơ quan đó chắc chắn rằng các điều kiện tồn tại cho toàn bộ sản phẩm.

5. Theo Điều XIX:1(a), các trường hợp dẫn đến việc áp dụng biện pháp tự vệ bao gồm sự kết hợp của những diễn biến không lường trước được và "hiệu lực của các nghĩa vụ" theo GATT 1994, cả hai điều này cùng dẫn đến việc gia tăng hàng nhập khẩu.

6. Thành viên mà kết luận rằng các nghĩa vụ nhất định của GATT 1994 hạn chế khả năng của Thành viên đó trong việc ngăn chặn hoặc khắc phục thiệt hại do gia tăng nhập khẩu, và do đó, việc đình chỉ các nghĩa vụ đó, cần xác định một cách chắc chắn các nghĩa vụ đó. Ngược lại, các Thành viên bị ảnh hưởng bởi việc đình chỉ sẽ không bắt buộc phải làm như vậy.

 

B. Việc giải thích và áp dụng cụm từ "do kết quả của những diễn biến không lường trước được" trong Điều XIX:1(a) GATT 1994 , bao gồm:

1. Một phần của các trường hợp và điều kiện cho phép một Thành viên áp dụng biện pháp tự vệ là "do kết quả của những diễn biến không lường trước được… [một] sản phẩm đang được nhập khẩu vào lãnh thổ của [Thành viên] đó với số lượng tăng lên và với các điều kiện gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng ”. Diễn biến không lường trước được là một sự kiện, thực tế hoặc hoàn cảnh xuất hiện hoặc xảy ra, bao gồm một giai đoạn mới trong một tình huống đang phát triển, không được dự đoán trước hoặc không được mong đợi. Bởi vì ý nghĩa thông thường của từ "diễn biến" (development) bao gồm một "giai đoạn mới trong một tình huống đang thay đổi hoặc đang phát triển", một sự kiện đã biết có thể phát triển thành một diễn biến không lường trước được.

2. Về thời điểm mà diễn biến phải là "không lường trước được", Điều XIX:1(a) yêu cầu rằng sự gia tăng gây ra thiệt hại trong nhập khẩu là kết quả của 2 yếu tố, tức là những diễn biến không lường trước được và "ảnh hưởng của các nghĩa vụ phát sinh" theo GATT 1994. Biện pháp khắc phục được Điều XIX:1(a) cho phép là đình chỉ các nghĩa vụ liên quan. Điều này có nghĩa là thời điểm diễn biến được coi là "không lường trước được" là thời điểm phát sinh các nghĩa vụ liên quan, vì Thành viên liên quan sẽ không thực hiện nghĩa vụ này nếu thấy trước một diễn biến dẫn đến sự gia tăng trong nhập khẩu mà gây thiệt hại. Liệu một diễn biến nhất định có phải là không lường trước được tại thời điểm các nghĩa vụ phát sinh hay không sẽ phụ thuộc vào các sự kiện.

3. Trong Điều XIX:1(a), cụm từ "do hậu quả của" kết nối những diễn biến không lường trước được và sự gia tăng nhập khẩu gây thiệt hại, tức là, nó dự đoán rằng sự gia tăng nhập khẩu gây thiệt hại xảy ra "do", là tác động, hậu quả hoặc kết quả của - những diễn biến không lường trước được. Các báo cáo trước đây đã mô tả đây là "mối liên hệ hợp lý" giữa những diễn biến không lường trước được và sự gia tăng nhập khẩu gây thiệt hại.

4. Khi mô tả mối quan hệ cần thiết giữa việc nhập khẩu gia tăng và thiệt hại mà ngành sản xuất trong nước phải gánh chịu, Điều XIX:1(a) sử dụng từ "gây ra" (cause) trong cụm từ "gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng". Ngược lại, từ "gây ra" không được sử dụng trong phần đầu của Điều XIX:1(a) mà thay vào đó là cụm từ "do kết quả của" (as a result of). Việc lựa chọn các thuật ngữ khác nhau chỉ ra rằng mối quan hệ cần thiết giữa những diễn biến không lường trước được và sự gia tăng nhập khẩu không giống với mối quan hệ nhân quả, mà thay vào đó là mối quan hệ giữa sự gia tăng nhập khẩu và thiệt hại nghiêm trọng.

5. Cụm từ "do kết quả của" không thiết lập yêu cầu về mối quan hệ nhân quả. Điều này có nghĩa là cơ quan điều tra không cần cung cấp cùng một lượng lý luận và bằng chứng để chứng minh "mối liên hệ logic" giữa những diễn biến không lường trước được và sự gia tăng nhập khẩu như cần thiết nếu Điều XIX:1(a) có yêu cầu về mối quan hệ nhân quả.

C. Việc diễn giải và áp dụng yêu cầu chứng minh sự gia tăng nhập khẩu mạnh, đáng kể, đột ngột và gần đây theo Điều 2.1 và 4.2 (a) Hiệp định Tvệ và Điều XIX:1(a) GATT 1994, bao gồm:

1. Nếu một nguyên đơn trong vụ giải quyết tranh chấp tại WTO cáo buộc rằng sự gia tăng nhập khẩu mà một cơ quan có thẩm quyền kết luận là không đột ngột, đáng kể, mạnh hoặc đủ gần đây, thì cơ quan đó có nghĩa vụ đưa ra tham chiếu hoặc ngưỡng chuẩn để xác định điều gì có thể được coi là “đủ” hoặc không "đủ". Điều này là do khái niệm "đủ" là mang tính quan hệ. Một cái gì đó là "đủ" trong mối quan hệ với một cái gì đó khác. Những gì đủ điều kiện là "đủ" không thể tồn tại một cách trừu tượng không bị ràng buộc với một số điểm tham chiếu hoặc ngưỡng chuẩn để xác định thế nào là "đủ".

2. Vấn đề liệu một mức tăng là đủ đột ngột, đáng kể, mạnh và gần đây có thể được xác định bằng cách đánh giá liệu mức tăng có đủ gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước hay không. Câu hỏi này cũng có thể được xác định bằng cách tham khảo một số tiêu chuẩn khác do nguyên đơn đề xuất, như liệu mức tăng chỉ phản ánh sự đảo ngược so với các điều kiện thị trường bình thường sau một sự gián đoạn.

D. Việc diễn giải và áp dụng câu "các cơ quan có thẩm quyền sẽ công bố một báo cáo trình bày các kết luậncủa họ và các kết luận hợp lý đạt được về tất cả các vấn đề thích hợp về thực tế và luật pháp" trong câu cuối cùng của Điều 3.1 Hiệp định về Tự vệ, bao gồm:

1. Câu cuối cùng của Điều 3.1 yêu cầu các cơ quan chức năng đưa ra những phát hiện và kết luận hợp lý của họ về tất cả các vấn đề thích hợp về thực tế và luật pháp trong các báo cáo được công bố của họ. Điều này đòi hỏi các cơ quan chức năng phải đưa ra trong các báo cáo đã công bố của họ những gì họ đã kết luận, do kết quả của việc tìm kiếm hoặc điều tra, và các kết luận (kết quả, kết quả cuối cùng) mà họ đã đạt được từ những kết luận của mình. Những kết luận này phải được “dựa trên cơ sở lý luận”, được “nghiên cứu kỹ lưỡng”. Các vấn đề liên quan về thực tế và luật theo nghĩa của Điều 3.1 bao gồm các trường hợp và điều kiện phải được chứng minh để áp dụng biện pháp tự vệ và được quy định tại Điều 2.1 Hiệp định Tự vệ và Điều XIX:1(a) GATT 1994.

E. Việc diễn giải và áp dụng Điều 4.1 Hiệp định Tự vệ, bao gồm:

1. Một Thành viên được yêu cầu xác minh sự tồn tại của các trường hợp và điều kiện cần thiết cho toàn bộ sản phẩm bị điều tra (trong việc xác định thiệt hại, đối với toàn bộ các sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp tương ứng), và không nhất thiết phải trên cơ sở tách biệt .

2. Hiệp định Tự vệ không quy định một quy tắc ngăn cản các cơ quan chức năng kết luận về mối đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng bất cứ khi nào dữ liệu cho thấy xu hướng tích cực trong hoạt động của ngành trong nước tại một điểm nhất định của thời kỳ điều tra POI. Đúng hơn, Điều 4.1(b) quy định rằng "'đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng' sẽ được hiểu là thiệt hại nghiêm trọng sắp xảy ra một cách rõ ràng". Những đánh giá như vậy nhất thiết phải mang tính thực tế cụ thể và được thực hiện theo từng trường hợp cụ thể. Nếu bằng chứng trong quá trình tố tụng cho thấy hoạt động của một ngành công nghiệp trong nước đang trên một quỹ đạo đi lên lâu dài, thì có thể khó xác định rằng thiệt hại nghiêm trọng là "rõ ràng sắp xảy ra". Tuy nhiên, nếu bằng chứng cho thấy thiệt hại nghiêm trọng "rõ ràng sắp xảy ra" mặc dù có những cải thiện nhất định trong hoạt động của ngành sản xuất trong nước, thì cơ quan có thẩm quyền có thể kết luận về mối đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng. Ví dụ, bằng chứng có thể cho thấy rằng sự cải thiện chỉ là thoáng qua hoặc viển vông và ngành sản xuất trong nước sẽ tiếp tục gặp bất lợi trong cạnh tranh so với nhập khẩu một khi sự cải thiện trong thời gian ngắn mất đi. Theo đó, câu hỏi về việc liệu việc xác định mối đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng có tuân thủ Hiệp định Tự vệ hay không khi hiệu quả hoạt động của ngành trong nước được cải thiện tại một thời điểm nào đó trong POI sẽ phụ thuộc vào sự kiện và chất lượng giải thích của cơ quan có thẩm quyền về bản chất và ý nghĩa của những sự cải tiến đó.

F. Việc diễn giải và áp dụng Điều XIX:1(a) GATT 1994 và các Điều 2.1, 3.1, 4.1 (c), 4.2 (a), 4.2 (b) và 4.2 (c) Hiệp định Tự vệ , bao gồm những gì mà những điều khoản này không điều chỉnh:

1. Điều XIX:1(a) GATT 1994 và các Điều 2.1, 3.1, 4.1(c), 4.2(a), 4.2(b) và 4.2(c) Hiệp định tự vệ không điều chỉnh việc lựa chọn bản thân sản phẩm bị điều tra. Các điều khoản này không đặt ra các quy tắc để lựa chọn sản phẩm bị điều tra, và ví dụ, chúng không ngăn cản một Thành viên đưa vào một loạt các sản phẩm trong một cuộc điều tra. Mặc dù Hiệp định tự vệ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền định nghĩa sản phẩm bị điều tra, nhưng Hiệp định này không đặt ra các yêu cầu như chỉ giới hạn sản phẩm bị điều tra đối với những sản phẩm giống hoặc cạnh tranh trực tiếp với nhau. Cơ quan có thẩm quyền có thể đưa hai sản phẩm riêng biệt vào sản phẩm bị điều tra và không có nghĩa vụ đưa ra lời giải thích tại sao hai sản phẩm riêng biệt lại được coi là sản phẩm đang bị điều tra trong cùng một vụ điều tra.

G. Việc diễn giải và áp dụng Điều 5.1 Hiệp định Tự vệ , bao gồm:

1. Phần đầu tiên của Điều 5.1 quy định mức độ tối đa cho phép mà biện pháp tự vệ có thể được áp dụng bằng cách đề cập đến "thiệt hại nghiêm trọng". Các quy định khác của Hiệp định tự vệ, và Điều XIX:1(a) GATT 1994, cung cấp bối cảnh liên quan để hiểu cụm từ "thiệt hại nghiêm trọng" trong Điều 5.1. Thiệt hại liên quan đến các mục đích của Điều 5.1 là thiệt hại được xác định là tồn tại theo Điều 4 Hiệp định tự vệ, gây ra hoặc bị đe dọa bởi sự gia tăng nhập khẩu do những diễn biến không lường trước được.

2. Không có quy định nào trong Điều 5.1 yêu cầu khoảng thời gian mà Thành viên liên quan kết luận về sự gia tăng nhập khẩu gây ra hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng phải trùng với khoảng thời gian mà Thành viên sử dụng để xây dựng mức tự vệ, hoặc hai khoảng thời gian phải có các điểm cuối trùng nhau. Điều 5.1 và bối cảnh của nó cho thấy rằng Hiệp định tự vệ không yêu cầu hai giai đoạn này giống nhau. Hiệp định tự vệ không yêu cầu khoảng thời gian được sử dụng để xây dựng mức độ của biện pháp tự vệ phải giống với khoảng thời gian được sử dụng để phân tích thiệt hại.

H. Việc diễn giải và áp dụng Điều 7.4 Hiệp định tự vệ, bao gồm:

1. Việc tự do hóa (nới lỏng) một biện pháp tự vệ có thể là "tăng dần", tức là tiến hành theo từng bước hoặc từng giai đoạn, ngay cả khi Thành viên giảm mức độ tự do hóa cần đạt được trong "khoảng thời gian đều đặn" sau khi công bố ban đầu một mức độ khác. Không có gì theo nghĩa thông thường của lời văn Điều 7.4 Hiệp định tự vệ chỉ ra rằng một khi đã thông báo, tốc độ tự do hóa không thể giảm hoặc một Thành viên nhất thiết không được giảm tốc độ tự do hóa đạt được trong khoảng thời gian đều đặn sau khi ban đầu thông báo một tỷ lệ cao hơn.

I. Việc diễn giải và áp dụng Điều XIII:2(d) GATT 1994 , bao gồm:

1. Câu thứ hai của Điều XIII:2(d) yêu cầu phân bổ tỷ lệ cụ thể của từng quốc gia trong hạn ngạch thuế quan (TRQ) dựa trên tỷ lệ do các Thành viên liên quan cung cấp trong "thời kỳ đại diện trước đó". Điều khoản đề cập đến "một" thời kỳ đại diện trước đó. Việc sử dụng mạo từ không xác định "a" thay vì mạo từ xác định "the" theo ý niệm về "thời kỳ đại diện trước đó" cho thấy rằng Thành viên áp dụng TRQ có quyền quyết định trong việc lựa chọn thời kỳ trước đó mà họ cho là đại diện cho mục đích phân bổ tỷ lệ TRQ cụ thể của quốc gia liên quan.

Nguồn:

Tin tức

Doanh nghiệp cần biết