Kết luận sơ bộ vụ việc Hoa Kỳ điều tra chống trợ cấp đối với một số loại nhựa epoxy nhập khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan (Phần 1)

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ban hành kết luận sơ bộ vụ việc điều tra chống trợ cấp (CTC) đối với một số loại nhựa epoxy nhập khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan. Đối với hàng hóa xuất xừ từ mỗi quốc gia, DOC thực hiện một cuộc điều tra độc lập và có kết luận điều tra sơ bộ độc lập. Hiện nay, DOC đồng thời tiến hành điều tra chống bán phá giá (CBPG) đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan. Vụ việc điều tra CBPG hiện chưa có kết luận sơ bộ.

  1. Thông tin chung về các vụ việc
  1. Bên yêu cầu điều tra: các nhà sản xuất nhựa epoxy của Hoa Kỳ
  2. Ngày nộp đơn yêu cầu: Ngày 03 tháng 4 năm 2024
  3. Ngày khởi xướng điều tra: Ngày 23 tháng 4 năm 2024
  4. Sản phẩm bị điều tra: Sản phẩm bị điều tra là một số sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan. Nhựa epoxy hay còn gọi là Epoxy resin là một hoạt chất hữu cơ có nguồn gốc từ nhựa composite. Sản phẩm được nhập khẩu vào Hoa Kỳ theo mã HS 3907.30.0000.
  5. Giai đoạn điều tra (POI): 01/1/2023 đến 31/12/2023
  6. Ngày ban hành kết luận sơ bộ: Ngày 09 tháng 9 năm 2024
  1. Kết luận sơ bộ về các vụ việc
  1. Đối với vụ việc Hoa Kỳ điều tra CTC đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc
    1. Các chương trình trợ cấp bị cáo buộc [1]

Trong đơn yêu cầu, Nguyên đơn cáo buộc 18 chương trình trợ cấp có thể đối kháng do Chính phủ Trung Quốc áp dụng đối với sản phẩm nhựa epoxy xuất khẩu từ Trung Quốc. Sau quá trình thẩm định đơn yêu cầu, DOC đã ban hành quyết định khởi xướng điều tra các chương trình bị cáo buộc được chia thành các nhóm sau:

  1. Nhóm các chương trình cho vay: 03 chương trình

+ Tín dụng cho người bán hàng xuất khẩu;

+ Tín dụng cho người mua hàng xuất khẩu;

+ Bảo đảm tín dụng xuất khẩu.

  1. Nhóm các chương trình Nhà nước cung cấp hàng hóa, dịch vụ thấp hơn giá thông thường:02 chương trình

+ Cung cấp điện với giá thấp hơn giá thông thường;

+ Cung cấp quyển sử dụng đất với giá thấp hơn giá thông thường;

  1. Nhóm các chương trình ưu đãi thuế: 06 chương trình

+ Giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ mới;

+ Khấu trừ thuế thu nhập cho chi phí nghiên cứu và phát triển;

+ Giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp được khuyến khích;

+ Miễn thuế nhập khẩu và thuế VAT đối với thiết bị nhập khẩu trong các ngành được khuyến khích;

+ Hoàn thuế VAT cho thiết bị sản xuất trong nước;

+ Ưu đãi thuế thu nhập cho các công ty thuộc sở hữu trong nước mua thiết bị sản xuất trong nước.

  1. Nhóm các chương trình hỗ trợ: 07 chương trình

+ Cấp vốn và các khoản chi khác từ ngân sách hoạt động vốn nhà nước;

+ Tài trợ từ Quỹ phát triển ngoại thương;

+ Trợ cấp hỗ trợ xuất khẩu;

+ Tài trợ công nghệ trọng yếu của quốc gia;

+ Trợ cấp cho việc ngừng hoạt động/thay thế năng lực và công nghiệp đã lỗi thời và tái cơ cấu;

+ Tài trợ để bảo tồn năng lượng và giảm phát thải;

+ Tài trợ cho sản xuất tiên tiến ở tỉnh Giang Tô.

Bên cạnh các chương trình bị cáo buộc trong Thông báo khởi xướng, ngày 31 tháng 7 năm 2024, nguyên đơn đã nộp bổ sung cáo buộc chương trình trợ cấp mới. Các cáo buộc mới sẽ được phân tích trong giai đoạn sau kết luận sơ bộ.

  1. Bị đơn bắt buộc của vụ việc

Đối với vụ việc với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc này, DOC không nhận được thông tin cung cấp từ các nhà xuất khẩu Trung Quốc, DOC đã dựa trên số liệu hải quan Hoa Kỳ để xác định bị đơn bắt buộc của vụ việc: Công ty TNHH Tập đoàn Jiangsu Sanmu (Sanmu) và Công ty Hóa chất Sandong Bluestar Dongda (Bluestar).

Sau khi xác định được bị đơn bắt buộc của vụ việc, ngày 13 tháng 5 năm 2024, DOC ban hành bản câu hỏi điều tra ban đầu gửi Chính phủ Trung Quốc (GOC) và 02 doanh nghiệp bị đơn bắt buộc. Tuy nhiên, DOC đã không nhận được bản trả lời của cả GOC và các doanh nghiệp bị đơn trong vụ việc này.

  1. Kết luận sơ bộ [2]

Trong vụ việc này, do GOC và các bị đơn bắt buộc không tham gia vụ việc, DOC dựa trên dữ liệu sẵn có để xác định biên độ trợ cấp đối với hàng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Các nội dung chính của kết luận sơ bộ như sau:

  • GOC can thiệp vào hệ thống tài chính của Trung Quốc: DOC sử dụng kết luận về rà soát hệ thống tài chính Trung Quốc năm 2017 để tiếp tục kết luận GOC có can thiệp đáng kể vào lĩnh vực tài chính, bao gồm thị trường ngân hàng, thị trường trái phiếu…
  • Tại Trung Quốc tồn tại sự đa dạng hóa về nền kinh tế. Kết luận này nhằm đánh giá sự riêng biệt của các chính sách đối với các ngành nghề cụ thể.
  • Có tồn tại tình huống đặc biệt cần áp dụng biện pháp hồi tố áp dụng biện pháp CTC do có sự gia tăng đáng kể hàng hóa bị điều tra nhập khẩu từ Trung Quốc trong giai đoạn điều tra.
  • DOC áp dụng dữ liệu sẵn có kết luận rằng tồn tại các chính sách trợ cấp được cáo buộc được cung cấp từ phía GOC do GOC không hề cung cấp các thông tin theo yêu cầu của bản câu hỏi điều tra
  • DOC áp dụng dữ liệu sẵn có để xác định biên độ trợ cấp đối với các bị đơn bắt buộc của Trung Quốc do các bên liên quan không tham gia trả lời bản câu hỏi trong quá trình điều tra. Khi chọn mức AFA, mục 776(d) của Đạo luật quy định rằng có thể sử dụng biên độ trợ cấp đối kháng được xác định cho cùng một chương trình hoặc một chương trình tương tự trong một vụ việc CTC liên quan đến cùng một quốc gia, hoặc, nếu không có chương trình giống hoặc tương tự, có thể sử dụng biên độ trợ cấp có thể đối kháng cho một chương trình trợ cấp từ một vụ việc khác bao gồm cả mức cao nhất. Trong vụ việc này, DOC đã xác định biên độ theo các vụ việc trước đó với Trung Quốc bao gồm các vụ việc đối với sản phẩm giấy, sản phẩm hóa chất MDI, sản phẩm túi dệt, sản phẩm xilanh. Tổng biên độ trợ cấp được xác định là 108,64%. Trong số các chương trình bị tính biên độ trợ cấp có thể đối kháng, các chương trình về cho vay (lĩnh vực ngân hàng), thuế thu nhập doanh nghiệp, trợ cấp về giá điện là các chương trình bị áp mức biên độ cao, trên dưới 20% mỗi chương trình.

Như vậy, với việc GOC và các bị đơn bắt buộc không tham gia vụ việc,DOC đã sử dụng mức biên độ cao trong các vụ việc trước đó để tính biên độ trợ cấp cho hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trong vụ việc này dẫn đến mức thuế cao. Đây cũng là kết quả có thể lường trước đối với trường hợp các bên không hợp tác với cơ quan điều tra.

Doanh nghiệp

Biên độ trợ cấp

  •  
  1.  
  •  
  1.  

Các doanh nghiệp khác

  1.  
  1. Tình hình chung về nhập khẩu nhựa epoxy từ các nguồn trên thế giới vào thị trường Hoa Kỳ

Tổng kim ngạch nhập khẩu nhựa epoxy vào Hoa Kỳ đạt 22,03 tỷ USD vào năm 2020 và vẫn tăng trưởng đều ở mức 8,01% vào năm 2021 bất chấp sự ảnh hưởng của dịch bệnh. Sang năm 2022, trị giá nhập khẩu mặt hàng này tăng đến 19,3% và đạt 26,68 tỷ USD. Mặc dù vào tháng 2/2022 Hoa Kỳ đã ra quyết định gia hạn áp dụng biện pháp tự vệ cho mặt hàng này đối với Việt Nam và nhiều quốc gia khác, tuy nhiên trị giá nhập khẩu nhựa epoxy vẫn có mức tăng trưởng cao đạt 23,89%, giúp cho tổng trị giá nhập khẩu mặt hàng này chạm mốc cao nhất vào năm 2023 lên đến hơn 39 tỷ USD.

Tổng giá trị nhập khẩu nhựa epoxy sang thị trường Hoa Kỳ từ 2020 đến 2023

Đơn vị: USD

Nguồn: IHS Markit

Bốn quốc gia Đông Nam Á bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Ma-lai-xi-a và Campuchia chiếm đến 32,45% tổng trị giá nhập khẩu nhựa epoxy vào Hoa Kỳ và tiếp tục tăng lên 41,67% vào năm 2023. Mặc dù phải cạnh tranh với quốc gia lớn và có vị trí địa lý thuận lợi như Mê-hi-cô nhưng năm 2023 Việt Nam vươn lên vị trí số một về xuất khẩu mặt hàng nhựa epoxy sang thị trường Hoa Kỳ. Hầu hết các thị trường chính xuất khẩu nhựa epoxy sang Hoa Kỳ đều có xu hướng gia tăng về giá trị xuất khẩu trừ Trung Quốc và Nhật Bản có sự sụt giảm, trong đó trị giá xuất khẩu của Trung Quốc giảm đến 23,05% so với cùng kỳ năm trước đó xuống còn 2,45 tỷ USD trong năm 2023, đánh mất vị trí thứ 3 vào tay Thái Lan. Ấn Độ là quốc gia có mức tăng trưởng mạnh mẽ nhất về trị giá xuất khẩu sang Hoa Kỳ lên đến 77,84%, tiếp sau đó là Campuchia và Thái Lan. Ấn Độ và Campuchia có mức tăng vọt từ 481 triệu USD và 770 triệu USD lên 2,17 tỷ USD và 2,38 tỷ USD trong năm 2023 trong khi Thái Lan lần đầu chạm mốc 4,46 tỷ USD về kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nhựa epoxy. Mê-hi-cô chỉ có mức tăng nhẹ 4,57% về trị giá xuất khẩu nhựa epoxy và qua đó đánh mất vị trí số một vào tay Việt Nam khi thị trường này tăng đến gần 25% trị giá xuất khẩu vào năm 2023, đạt 5,67 tỷ USD mức cao nhất từ trước đến nay.

Các ngồn cung ứng chính vào thị trường Hoa Kỳ năm 2022 & 2023

Đơn vị: USD

Nguồn cung ứng vào Hoa Kỳ

Trị giá NK năm 2022

Trị giá NK năm 2023

Thị phần năm 2022

Thị phần năm 2023

2022 so với 2023

Tổng NK vào Hoa Kỳ

29.685.818.469

39.005.409.016

   

23,89

Việt Nam

4.257.189.755

5.675.663.252

14,34

14,55

24,99

Mê-hi-cô

4.564.178.728

4.782.646.589

15,37

12,26

4,57

Thái Lan

1.957.722.628

4.460.286.056

6,59

11,44

56,11

Ma-lai-xi-a

2.646.076.766

3.737.087.434

8,91

9,58

29,19

Hàn Quốc

1.864.983.339

1.985.705.834

6,28

5,09

6,08

Trung Quốc

3.024.784.235

2.458.156.359

10,19

6,30

-23,05

Ấn Độ

481.264.093

2.171.612.964

1,62

5,57

77,84

Nhật Bản

2.173.588.833

2.100.083.861

7,32

5,38

-3,50

Campuchia

770.651.979

2.381.146.142

2,60

6,10

67,64

Đức

1.245.983.463

1.710.994.334

4,20

4,39

27,18

Đài Loan

1.204.420.858

1.412.692.468

4,06

3,62

14,74

 

Nguồn: IHS Markit

Tình hình xuất khẩu nhựa epoxy sang Hoa Kỳ 3 tháng đầu năm 2024 vẫn ghi nhận mức tăng trưởng tốt đối với các quốc gia đến từ Đông Nam Á, duy chỉ có Campuchia là có sự sụt giảm lên đến 27,34% về trị giá xuất khẩu. Việt Nam vẫn duy trì vị trí dẫn đầu với kim ngạch xuất khẩu nhựa epoxy sang Hoa Kỳ lên đến 1,82 tỷ USD trong khi Thái Lan và Ma-lai-xi-a có mức tăng trưởng lần lượt là 14,34% và 16,24%. Nhiều thị trường lớn xuất khẩu nhựa epoxy sang Hoa Kỳ có sự suy giảm về giá trị xuất khẩu, trong đó có Hàn Quốc giảm mạnh lên đến hơn 102% trong 3 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước. Ấn Độ cũng ghi nhận mức sụt giảm lên đến 44,1% trong khi các thị trường khác từ Châu Á và Châu Âu có mức suy giảm từ 5,08% đến 15,88%.

 

Bảng 2: Các ngồn cung ứng chính vào thị trường Hoa Kỳ Q1/2023 & Q1/2024

Đơn vị: USD

Nguồn cung ứng vào Hoa Kỳ

Trị giá NK năm Q1/2023

Trị giá NK năm Q1/2024

Q1/2024 so với Q1/2023

Tổng NK vào Hoa Kỳ

9.617.346.624

9.320.307.128

-3,19

Việt Nam

1.424.896.009

1.823.869.273

21,88

Mê-hi-cô

1.239.283.258

1.134.334.376

-9,25

Thái Lan

1.011.755.030

1.181.137.938

14,34

Ma-lai-xi-a

799.960.426

955.068.624

16,24

Hàn Quốc

648.988.181

320.644.555

-102,40

Trung Quốc

615.884.539

586.119.299

-5,08

Ấn Độ

560.952.530

389.106.755

-44,16

Nhật Bản

517.795.343

538.681.494

3,88

Campuchia

500.245.549

392.856.889

-27,34

Đức

423.299.483

365.306.497

-15,88

Đài Loan

283.813.667

263.163.692

-7,85

 

Nguồn: IHS Markit

Về thị phần có thể thấy sự thay đổi không quá đáng kể khi Việt Nam vẫn giữ vị trí số một với thị phần lên đến 19,57% vào quý 1 năm 2024. Bên cạnh đó, Thái Lan vươn lên vị trí thứ hai với thị phần là 12,67% trong 3 tháng đầu năm nay. Các thị trường còn lại không có quá nhiều sự thay đổi về thị phần, chí có Hàn Quốc ghi nhận sự sụt giảm đáng kể xuống còn 3,44% tổng kim ngạch nhập khẩu nhựa epoxy của Hoa Kỳ.

  1. Đối với vụ việc Hoa Kỳ điều tra CTC đối với hàng hóa nhập khẩu từ Ấn Độ
    1. Các chương trình trợ cấp bị cáo buộc [3]

Căn cứ theo đơn yêu cầu của nguyên đơn, DOC khởi xướng điều tra CTC đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Ấn Độ với 15 chương trình được chia thành 05 nhóm như sau:

  1. Nhóm các chương trình ưu đãi xuất khẩu: 07 chương trình)

+ Khuyến khích dành cho các doanh nghiệp tiên phong

+ Chương trình hoàn thuế

+ Đề án xúc tiến xuất khẩu hàng hóa trọng yếu

+ Đề án xúc tiến xuất khẩu hàng hóa Ấn Độ

+ Giấy phép nhập khẩu miễn thuế

+ Chương trình cấp phép trước

+ Miễn thuế và phí đối với hàng xuất khẩu

  1. Nhóm các chương trình cho vay: 02 chương trình

+ Tài trợ trước và sau xuất khẩu từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Ấn Độ

+ Đề án cân bằng lãi suất cho tài trợ xuất khẩu

  1. Nhóm các chương trình thuế:01 chương trình

+ Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

  1. Nhóm các chương trình của Chính quyền tiểu bang Gujarat: 04 chương trình

+ Miễn thuế điện

+ Miễn thuế hàng hóa và dịch vụ

+ Cung cấp đất với giá thấp hơn giá thông thường

+ Ưu đãi giá nước

  1. Nhóm các chương trình hỗ trợ

+ Chứng chỉ năng lượng tái tạo

Cùng với đó, ngày 25 tháng 7 năm 2024 và ngày 01 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn đã nộp đơn bổ sung cáo buộc đối với 02 chương trình trợ cấp mới. Các chương trình này sẽ được hỏi trong các bản câu hỏi bổ sung giai đoạn sau khi ban hành kết luận sơ bộ.

  1. Bị đơn bắt buộc của vụ việc

DOC dựa vào số liệu của Cơ quan hải quan Hoa Kỳ để xác định doanh nghiệp bị đơn bắt buộc của Ấn Độ trong vụ việc này là 02 doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu sản phẩm bị điều tra lớn nhất của Ấn Độ: Công ty TNHH Atul (Atul) và Công ty Vật liệu cao cấp Champion (Champion)

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, cùng với việc thông báo về lựa chọn doanh nghiệp bị đơn bắt buộc, DOC cũng ban hành bản câu hỏi điều tra ban đầu dành cho Chính phủ Ấn Độ (GOI) và 02 doanh nghiệp bị đơn bắt buộc của Ấn Độ. Trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2024, GOI và các doanh nghiệp đã nộp bản trả lời câu hỏi đúng hạn. Tiếp đó, các bên cũng đã hợp tác nộp các bản trả lời bản câu hỏi bổ sung vào tháng 8 năm 2024.

Vào ngày 7 tháng 8 năm 2024, DOC ban hành một bản câu hỏi bổ sung dành cho Champion nhưng Champion đã không nộp bản câu trả lời đúng hạn. DOC đã từ chối xem xét bản trả lời câu hỏi bổ sung do Champion nộp sau thời hạn cho phép.

  1. Kết luận sơ bộ[4]

      Trong vụ việc này, GOI và các doanh nghiệp bị đơn bắt buộc đã có sự hợp tác ở các mức độ khác nhau với cơ quan điều tra và DOC sẽ phải đưa ra kết luận dựa trên các thông tin đã được cung cấp đúng hạn. Kết luận sơ bộ của DOC đối với vụ việc điều tra CTC sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Ấn Độ gồm các nội dung chính sau đây:

  • DOC đưa ra kết luận sơ bộ về tình trạng phân hóa kinh tế của Ấn Độ. Phân tích này phục vụ cho việc đánh giá tính riêng biệt của các chương trình đối với các nhóm ngành hàng khác nhau. DOC đã dựa trên thông tin được công bố bởi Bộ Thống kê Ấn Độ. Theo đó, Ấn Độ có sự phân hóa 3 nhóm ngành trong nền kinh tế với các chính sách ưu đãi với các nhóm ngành là khác nhau.
  • Sử dụng dữ liệu sẵn có bất lợi để xác định biên độ CTC cho hàng hóa của công ty Champion. Trong quá trình điều tra, do Champion đã không nộp bản trả lời bổ sung đúng hạn, DOC cho rằng các thông tin yêu cầu tại bản câu hỏi bổ sung rất quan trọng để tính toán biên độ CTC cho công ty. Việc thiếu các thông tin này cho thấy Champion không hợp tác với cơ quan điều tra và biên độ CTC của công ty sẽ bị áp dụng mức cao do tính toán bằng dữ liệu sẵn có (biên độ AFA). Đối với biên độ AFA tính toán cho Champion, DOC sử dụng mức biên độ tính cho Atul (doanh nghiệp bị đơn bắt buộc còn lại trong vụ việc) đối với 04 chương trình gồm: (1) Cơ chế hoàn thuế; (2) Miễn thuế và phí đối với hàng xuất khẩu; (3) Chương trình thuế ưu đãi thu nhập doanh nghiệp; và (4) Ưu đãi giá nước. Các chương trình đang được kết luận sơ bộ là các chương trình trợ cấp có thể đối kháng khi tính toán biên độ CTC cho Atul.  

Các chương trình còn lại, DOC áp dụng mức biên độ trợ cấp cao nhất được tính trong các vụ việc điều tra CTC trước đó đối với hàng hóa nhập khẩu từ Ấn Độ. Tổng mức biên độ CTC được tính cho Champion là 113%.

  • Đối với Atul - doanh nghiệp bị đơn bắt buộc có hợp tác trong vụ việc, DOC đưa ra kết luận sơ bộ về (1) các chương trình trợ cấp có thể đối kháng; (2) các chương trình trợ cấp không mang lại lợi ích cho Atul và (3) các chương trình trợ cấp mà Atul không sử dụng. Cụ thể các chương trình theo từng nhóm như sau:

+ Nhóm các chương trình trợ cấp có thể đối kháng: biên độ trợ cấp được tính cho Atul đối với nhóm chương trình này cũng được tính cho Champion (doanh nghiệp bị đơn bắt buộc bị coi là không hợp tác trong vụ việc này).

  1. Chương trình hoàn thuế: Đây là chương trình hoàn thuế nhập khẩu hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt cho nguyên vật liệu sản xuất khẩu. Atul đã trả lời rằng họ có được hưởng chương trình này trong năm 2023 (POI). Mức biên độ trợ cấp được xác định đối với chương trình này là 0.77%
  2. Chương trình miễn thuế và phí đối với hàng xuất khẩu: Chương trình này có hiệu lực từ 01 tháng 11 năm 2021. Với chương trình này, GOI thực hiện hoàn thuế thông qua hình thức các khoản tín dụng điện tử cho các nhà xuất khẩu theo một tỷ lệ xuất khẩu nhất định. Để tham gia chương trình này, các nhà xuất khẩu đủ điều kiện sẽ phải nộp yêu cầu cùng với hóa đơn vận chuyển hàng xuất khẩu. GOI đã cung cấp thông tin liên quan đến chương trình này và Atul cũng đồng ý rằng đã được hưởng lợi từ chương trình này trong POI. Mức biên độ trợ cấp được xác định cho Atul đối với chương trình này là 0.72%.
  3. Chương trình ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp: GOI giải thích rằng mục 35(i)(iv) của Đạo luật Thuế thu nhập cho phép một công ty yêu cầu khấu trừ 100% đối với chi phí vốn phát sinh (trừ chi phí mua đất) cho nghiên cứu khoa học liên quan đến hoạt động kinh doanh. Công ty Atul cũng đã yêu cầu khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp theo chương trình này của GOI trong POI. Mức biên độ trợ cấp được xác định cho Atul đối với chương trình này là 0.01%.
  4. Chương trình ưu đãi giá nước: Đây là chương trình do Chính quyền tiểu bang Gujarat (GSOG) đưa ra và thực hiện. GSOG kiểm soát việc định giá nước và với các khu công nghiệp thuộc quản lý của GSOG sẽ có mức giá thấp hơn so với giá nước dùng cho bên ngoài khu vực được ưu đãi. Mức biên độ trợ cấp được xác định sơ bộ cho Atul đối với chương trình này là 0.05%.

+ Nhóm các chương trình được xác định sơ bộ là không mang lại lợi ích có thể tính toán được trong POI:

  1. Khuyến khích dành cho doanh nghiệp tiên phong: Chương trình này được áp dụng vào năm 2009 đến 31 tháng 3 năm 2013 đối với một số ngành nhất định dưới dạng phiếu ưu đãi (khoản tín dụng) theo tỷ lệ phần trăm hàng hóa xuất khẩu đối với một số ngành ưu tiên. Atul đã cung cấp thông tin liên quan đến chương trình này, tuy nhiên, lợi ích mà doanh nghiệp nhận được là quá nhỏ để tác động tới hàng xuất khẩu trong POI.
  2. Chương trình miễn thuế điện của Chính quyền tiểu bang Gujarat: Theo Đạo luật Thuế điện Gujarat năm 1958, một thực thể thành lập một đơn vị mới hoặc bổ sung của một doanh nghiệp công nghiệp tại Gujarat được miễn thuế điện theo chương trình năng lượng tiêu thụ cho mục đích công nghiệp. Atul đã cung cấp thông tin về việc họ được nhận ưu đãi này đối với một trong các đơn vị sản xuất của mình. Tuy nhiên, mức biên độ trợ cấp được xác định là quá nhỏ, 0.005% nên được coi là không thể tính toán được.
  3. Chương trình cấp phép trước: Đây là chương trình mà GOI cho phép miễn thuế nhập khẩu trực tiếp với giấy phép được cấp trước dành cho hàng hóa là nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu. Trong cuộc điều tra này, cả Atul và GOI đều cung cấp thông tin đáng kể ghi lại các tính toán chi tiết và đã được kiểm toán về số lượng tiêu thụ của từng đầu vào nhập khẩu vào từng sản phẩm xuất khẩu, trên cơ sở sản phẩm cụ thể. DOC sơ bộ kết luận rằng GOI đã tiến hành kiểm tra các đầu vào thực tế liên quan để xác nhận đầu vào nào được tiêu thụ trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu, và với số lượng bao nhiêu, theo 19 CFR 351.519(a)(4)(ii), đối với Atul. Do đó, DOC kết luận rằng, trong trường hợp của Atul, các miễn thuế theo AAP chỉ giới hạn ở các đầu vào nhập khẩu được tiêu thụ trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu và do đó, không có lợi ích nào được cung cấp cho Atul trong POI này.
  4. Chính quyền Gujarat cung cấp giá đất thấp hơn giá thông thường: Dựa trên các điều khoản trong hợp đồng cho thuê đất của Atul, DOC thấy rằng các điều khoản trong hợp đồng cho thuê của công ty này giống với hợp đồng mua đất hơn là hợp đồng cho thuê hoặc thuê đất. Vì Atul đã mua cả hai lô đất trước thời hạn AUL, DOC thấy rằng Atul không được hưởng lợi gì từ chương trình này.

+ Nhóm các chương trình được kết luận sơ bộ là Atul không sử dụng:

  1.  Đề án xúc tiến xuất khẩu hàng hóa trọng yếu
  2.  Đề án xúc tiến xuất khẩu hàng hóa Ấn Độ
  3. Giấy phép nhập khẩu miễn thuế
  4. Tài trợ trước và sau xuất khẩu từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Ấn Độ
  5. Miễn thuế hàng hóa và dịch vụ
  6. Miễn thuế và phí đối với hàng xuất khẩu
  7. Chứng chỉ năng lượng tái tạo

Đối với doanh nghiệp bị đơn hợp tác trong vụ việc – Atul, mức biên độ trợ cấp được xác định là 1.55%. Mức biên độ được áp dụng với các doanh nghiệp khác cũng bằng với mức tính cho Atul, 1.55%.

Doanh nghiệp

Biên độ trợ cấp

Atul

1.55%

Champion

113.83%

Các doanh nghiệp khác

1.55%

Như vậy, trong vụ việc này, Atul đã được xác định mức biên độ trợ cấp có lợi hơn rất nhiều so với Champion và mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp khác không được lựa chọn làm bị đơn bắt buộc trong vụ việc.

                          

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Thông báo khởi xướng vụ việc Hoa Kỳ điều tra Chống trợ cấp đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Trung Quốc
  2. Báo cáo phân tích kết luận sơ bộ vụ việc Hoa Kỳ điều tra Chống trợ cấp đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Trung Quốc
  3. Thông báo kết luận sơ bộ vụ việc Hoa Kỳ điều tra Chống trợ cấp đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Trung Quốc
  4. Thông báo khởi xướng vụ việc Hoa Kỳ điều tra Chống trợ cấp đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Ấn Độ
  5. Báo cáo phân tích kết luận sơ bộ vụ việc Hoa Kỳ điều tra Chống trợ cấp đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Ấn Độ
  6. Thông báo kết luận sơ bộ vụ việc Hoa Kỳ điều tra Chống trợ cấp đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Ấn Độ

 

 

 

[1] Thông tin tổng hợp từ Thông báo khởi xướng điều tra vụ việc Hoa Kỳ điều tra CTC đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Trung Quốc (mã vụ việc C-570-167)

[2] Thông tin được tổng hợp từ Kết luận sơ bộ vụ việc Hoa Kỳ điều tra CTC đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Trung Quốc (mã vụ việc C-570-167)

[3] Tổng hợp từ thông báo khởi xướng vụ việc Hoa Kỳ điều tra CTC đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Ấn Độ (mã vụ việc C-553-927)

[4] Thông tin tổng hợp từ Kết luận sơ bộ vụ việc Hoa Kỳ điều tra CTC đối với sản phẩm nhựa epoxy nhập khẩu từ Ấn Độ (mã vụ việc C-553-927)